Sunday, May 16, 2021

Tâm thư xin phụ giúp tang lễ Lôi Hổ Phạm Thiên Vũ Chiến Đoàn 1 Xung Kích SLL/NKT

Toán Mississippi Chiến Đoàn 1 Xung Kích SLL/NKT

FOB #1; hàng ngồi trái qua phải Cao văn Hoàng (0-1), Trần Quang lúc còn là BKQ sau là Tr/Sĩ (0-9) , hàng đứng trái quá phải La văn Vượng người Nùng, không nhớ tên ngừơi Nùng, Tr/uý Green (1-0) hiện đang ở Oregon.


Kính thưa,
-Quý Niên Trưởng NKT, PD 219, MACVSOG.
-Anh Em và gia đình thân kính

Thật bất ngờ nhận được tin rất buồn từ quê nhà do anh Hà Đức Lợi chuyển đến báo tin anh Phạm Thiên Vũ , Toán Mississippi thuộc Chiến Đoàn I Xung Kích (CCN) đã giả từ gia đình và anh em để về lòng Đất Mẹ Vietnam ngày 12 tháng 5 năm 2021.
Hiện nay tại Hoa kỳ và toàn thế giới đang chống trả sinh tử với bệnh dịch Vũ Hán nói chung, và riêng tại quê nhà thì bệnh dịch Vũ Hán càng bùng khắp khác nơi gây bao tang thương cho đồng bào đã khó lại càng khó khăn hơn. Việc ra đi của anh Phạm Thiên Vũ không những gây đau đớn cho mọi người mà cũng tạo thêm nhiều khó khăn cho tang quyến và việc anh em chúng ta hiện nay đang ở Hải Ngoại có thể chia xẻ với tang quyến ngoài việc phân ưu chia buồn, cũng cần và thiết thực hơn xin anh em mỗi người cố phụ góp 1 tay giúp đỡ cho tang gia được chừng nào hay chừng ấy.
Chúng tôi cũng xin kính đề nghị như sau:
Xin Hãy gom sự giúp đỡ chung với nhau, để có thể có được số tiền bớt khiêm nhường, và thời gian góp tay đề nghị trong hạn 10 ngày từ hôm nay cho đến ngày Chúa Nhật 26 tháng 5 năm 2021 .
Tình hình kinh tế ở đâu hiện nay cũng đều "gạo châu củi quế" và tại Việt Nam thì lại càng bi đát hơn, xin anh em cố gắng giúp cho tang quyền thì chắc khắp đất trời sẽ đều cảm thấy ấm lòng .

Chân thành cám ơn sự quan tâm của Quý Niên Trưởng và Quý Huynh Đệ khắp nơi

Trân trọng, 

Lâm N. Chiêu
Sở BCH/NKT
Cựu Liên Toàn Trưởng CD2XK/CCC.

P.S. Gia đình tôi xin góp $100 giúp tang quyến anh Phạm Thiên Vũ.

Toán Vạn Kiếp Chiến Đoàn 1 Xung Kích SLL/NKT
Ngồi: Phạm Thiên Vũ, Đứng từ phải Tr/Úy Green, Cao văn Hoàng, không nhớ tên.
 
Danh sách đóng góp sẽ cập nhật thường Xuyên.
- Tổng Hội Nha Kỹ Thuật                            $150.00 USD*      
- NT Lữ Triệu Khanh BCH/NKT                     $50.00 USD*
- LH Lâm Ngọc Chiêu BCH/NKT                   $100.00 USD*
- KB Đặng Quỳnh Phi Đoàn 219                   $ 50.00 USD*
- KB Trần Vê Phi Đoàn 219                           $ 50.00 USD*
- HL Nguyễn Quang Châu Đoàn 11              $ 50.00 USD*
- LH Lưu Văn Thuần CD1XK                         $ 50.00 USD*
- HL Mai Xuân Bình Đoàn 71                         $50.00 USD*
- LH Đoàn Khánh Chiến Đoàn 1XK            $100.00 USD*
- HD Khuê Bùi SLL/NKT                              $100.00 USD*
- CH Vi Đổ                                                      $50.00 USD*
- HD Trâm Trần G/Đ NT Trần T. Ginh           $50.00 USD*
- LH Nguyễn Văn Trung Covey SLL/NKT    $50.00 USD
- LH Nguyễn Bác Ái  Chiến Đoàn 1 XK        $50.00 USD*
- HD Vũ Thảo                                                  $50.00 USD*
- HL Phạm Hòa Đoàn 72                                $50.00 USD*
Tổng Cộng                                                   $1050.00 USD
(*) Đã nhận
Đóng góp xin quý anh gửi về:
Zelle: 310-245-2284
 
 LH Phạm Thiên Vũ đang mặc đồ dơi nylon nhà kho phát năm 67

Cập nhật tin tức về Toán Mississippi của Lôi Hổ Đoàn Khánh

Chiến hữu Phạm Thiên Vũ, sanh năm 1948, năm 1967 phục vụ tại FOB # 1 Phú Bài làm thông dịch viên toán  MISSISSIPPI sau chuyển về FOB # 4 Đà Nẵng.

Toán Mississippi  từ Tiền doanh 1 Phú Bài (KBC 4162/SLL đóng cửa, chuyển vào CĐ1XK Đà Nẵng (KBC 3998; cuối năm 1969 đầu 1970 toán Mississippi đổi tên thành Hải Điểu. Giữa năm (khoảng tháng 7/ 1971). Hải Điểu bị banh ta lông. Phạm Thiên Vũ may mắn sống sót, bị thương nặng, rồi được giải ngũ (anh Thuần có còn nhớ lúc bấy giờ đi ngang qua Hải Điểu thì toàn mùi hương khói bốc ra không?)
Mến chào 
Khánh Đoàn
 
Khánh Đoàn nhắc lại mới nhớ toán Hải Điểu đụng tại bãi đáp, toán trưởng Nguyễn Dứa chết tại chỗ sau lấy xác được, vài anh em mất tích PT VŨ bị thương - giải ngũ, sau phòng ngủ toán có lập bàn thờ khói hương nghi ngút là vậy.
LH Lưu Văn Thuần  
 
Anh Thuần ơi !!! Nhắc nhớ lại buồn và nhớ thật nhiều, chắc chắn rằng anh còn nhớ Ch/Uý Dứa trong lúc vào khu cấm thì có giấy tờ về anh được thăng cấp lên Thiếu Uý (chưa kịp gắn lon) nhảy chuyến đó anh Dứa đã hy sinh và trở thành cố Trung Uý!!!! Anh em mình lùm sùm anh Dứa được lên lon nhanh nhất trong QLVNCH.
Anh cố gắng bảo vệ sức khoẻ nhé.
Kính chào anh
Khánh ( Hải Sơn+ Hải Long)
Khánh Đoàn 

Hồi Ký Lôi Hổ Bên Những Bờ Rừng / Phan Minh

Nhân vội vã bước lên tàu, bên cạnh những hành khách rời cao nguyên đất đỏ leiku, trên chuyến bay C 47 chiều cuối tuần, bên cạnh anh là một cô gái Huế, cô hay nhìn lên bộ áo bay đã ngả màu của anh. Trên hàng ghế dựa hai bên thân tàu, mọi người ai nấy đã vào ghế ngồi, và thắt giây an toàn, con tàu tiến dần ra phi đạo. 

Nhân nhìn đồng hồ, như một thói quen mỗi lần tàu cất cánh. Cô gái hỏi anh trong tiếng ồn của máy bay đang bắt đầu tăng tốc độ để cất cánh, chàng không nghe rõ câu hỏi, nhưng nhìn theo cử chỉ của cô gái, chàng trả lời: " 3 giờ 02 phút thưa cô". 
Con tàu cố gắng vươn lên để lấy cao độ, hành khách bị lôi theo độ dốc của con tàu, mái tóc thề của cô gái bị gió đưa về phiá sau, che một phần áo bay đã bạc màu của chàng, trông thật dễ thương. Chàng để yên và ngửi thấy mùi thật êm dịu của tóc nàng. Cô gái quay lại xin lỗi, với vẻ thẹn thùng. Nhân mở đầu câu chuyện trong tiếng ồn của máy bay đang rền ở bên ngoài. 
- Cô về đâu? ... 
Cô gái đáp ngay như đã sẵn sàng từ lâu: 
- Dạ em về Huế, thế còn anh?... 
Tiếng cô gái thật tươi vui, Nhân nhìn kỹ hơn qua vai nàng, đôi mắt tròn với hàng lông mi đen dài, sóng mủi thon và đặc biệt làn môi như những quả đào đang mùa. 
Nhân trả lời: 
- Tôi cũng về Huế, nhưng chắc là không còn xe để ra Huế, khi tàu về đến Ðà Nẵng chiều nay. 
Nàng trả lời nho nhỏ: 
- Dạ ... 

***
Nhân nhìn ra bên ngoài - nghĩ ngợi mông lung. Chàng nghĩ về những ngày ra Pleiku, nơi vùng đất đỏ, có đồi Cù-Hanh, có con phố nhỏ thật dịu hiền. Những chiều trong cơn lạnh của núi đồi cao nguyên, chúng bạn của Nhân thường hay ra phố, để tìm vui bên ly cà phê đen của quán "Dinh Ðiền", hay đi bách bộ trên con đường dốc đỏ, nhìn theo bóng của các cô gái vùng Tây Nguyên đang tha thướt với những chiếc áo dài.
Nhân nghĩ về mấy tháng trước hồi còn ở Cần Thơ, phi trường Bình Thủy, nơi chàng đã sống bốn năm, bên dòng sông Hậu, với bao nhiêu vui buồn, với những chuyến bay đêm, những sớm mai bay dọc theo những hàng dừa xanh hai bên bờ kinh, băng qua những cánh đồng lúa. Nhân và các bạn của chàng thường cất cánh khi mọi người đang còn ngủ yên, để đến những điểm hẹn, trước lúc bình minh. Rồi những ngày ghé lại Tô Châu, Hà Tiên, bay dọc theo con kinh Vĩnh Tế. Có lúc ghé về Cà Mau, U-Minh nơi những đầm đầy những cây tràm, cây đước.
Có một lần chàng đã thả toán tại mủi Cà Mau; phần đất cuối cùng của dải đất hình chử "S". Từ trên trời cao nhìn xuống một màu xanh tươi của vùng đồng bằng với những làn sương mai đang còn lảng vảng trên mặt đất. 
Trong khung cảnh thanh bình đó, cũng đang ẩn dấu những trận chiến khốc liệt, và bao người tranh nhau từng tất đất chiếm ngự. 
Chợt cô gái quay lại hỏi:
-Anh đang nghĩ gì mà có vẽ đăm chiêu như thế? 
Cô ta đang chăm chăm nhìn vào khuôn mặt thiếu vắng nụ cười của Nhân, chàng trả lời: 
-Tôi đang nghĩ về những ngày ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. 
Chàng và cô gái thật ngượng ngùng khi chưa biết được tên nhau, rồi chàng lên tiếng: 
-Tôi tên Nhân, thế còn tên cô? 
Cô gái có phần dạn dĩ hơn. 
-Dạ em tên Hoá...
Nàng nói tên mình một cách rất tự nhiên và đang theo dõi người đối diện. Có lúc nàng bắt gặp ánh mắt của Nhân nhìn nàng, Hoá tỏ vẻ thẹn thùng, rồi cả hai bắt đầu những mẩu chuyện về mình, Hoá hỏi: 
-Anh Nhân mới ra Pleiku? 
Chàng trả lời trong niềm luyến tiếc: 
-Vâng tôi ra Pleiku đã 3 tháng!... Thế còn Hoá? 
Hoá cho biết nàng có người anh là một sĩ quan ngành Quân Cảnh Tư Pháp (QCTP), đang đóng tại Pleiku, anh Trương Hữu Lạc trưởng phòng QCTP Pleiku, Hoá nói:
-Em ghé thăm anh chị của em, và ở chơi với họ hơn một tháng; sau khi tan trường ở Huế. 
Nhân cũng là học sinh của Huế, sau ngày Mậu Thân, chàng tình nguyện vào Quân chủng Không Quân để trở thành một Phi Công.Hoá đã bắt đầu dạn dĩ hơn, và câu chuyện mỗi lúc một vui hơn, rồi nàng quay qua hỏi Nhân: 
-Anh Nhân có thường về thăm Huế không? 
Nhân lắc đầu không nói, chàng nhớ ra mình đã ít về Huế, hầu như mỗi năm chỉ một lần. Chàng đã về Huế trước khi thuyên chuyễn lên Pleiku, lần này với lý do đặc biệt nên chàng lại được ghé thăm nhà 15 ngày trước khi trở lại đơn vị. 
***
Trong tiếng ồn của con tàu chiều nay, Nhân im lặng nghĩ về một chuyến bay hai tuần trước đây (vào trung tuần tháng 6 năm 1974). Ngày đó chàng và Phương, một hoa tiêu về nước sau chàng nhưng đã lên Pleiku sau ngày về nước, còn chàng thì về trình diện Vùng IV, phục vụ nơi vùng đồng bằng sông Cửu Long. Số giờ bay của chàng trội hơn Phương, nhưng vì mới ra vùng cao nguyên nên Nhân phải ngồi ghế hoa tiêu phụ. Khi bay, Phương ngồi ghế hoa tiêu chính. Phương đã dí dỏm nói với Nhân khi ngồi vào ghế lái:
-Anh hôm nay là IP (huấn luyện viên) của Phương đấy nhé. 
Nhân mỉm cười, vì ghế trái dành cho những IP (Instructor Pilot) của ngày nào tại các trường bay bên Mỹ; mà Phương và chàng đã trải qua trong thời gian huấn luyện hồi 69-70. Hôm ấy Phương và Nhân là phi hành đoàn thứ ba trong phi vụ thả toán. Trời vừa lờ mờ sáng cả đoàn trực thăng bay về đáp tại căn cứ thuộc lực lượng Lôi Hổ cạnh Biển Hồ trên đường đi Chu Pao. Trông nét mặt mọi người, ai nấy đều rất nghiêm trọng, vì tình hình hai toán Lôi Hổ vào lòng địch trước đây đã bị bắt, toán thứ ba vừa hoàn thành nhiệm vụ, thì bị phát giác, và đang trốn quanh căn cứ của Bộ Tư Lệnh tiền phương của địch; nằm sát biên giới Việt Lào. 
Phương và Nhân vào phòng hành quân để tham dự buổi thuyết trình của sĩ quan quân báo. Ai nấy đều im lặng, vì sứ mạng hôm nay là bằng mọi giá phải bốc cho được toán thám sát thứ ba này. Toán sáu người này, sáng nay đã liên lạc về cho biết là họ đã hoàn thành nhiệm vụ, nhưng suốt đêm qua đã phải ẩn náu quanh các trại của địch quân tiếp cận biên giới.
***
Những tháng cuối năm 1971, Nhân đã có dịp bay những phi vụ với các toán Lôi Hổ từ căn cứ B-15 tại Quãng Lợi. Họ được đưa lên phi trường Lộc Ninh, để thả xuống vùng tiếp cận biên giới Việt Miên. Ðây là lần đầu Út và Nhân tham dự vào việc thả toán. Út, một người đàn anh về phi đoàn trước chàng, trước đó Út và Nhân đã cùng bay với hợp đoàn của Mỹ, cho nên hai người không thấy có gì nghiêm trọng cả. Họ từng bay chung với một hoả lực hùng hậu, có hai chiếc Cobra, và hợp đoàn hai chiếc UH-1, với một OH-6 mà chàng thường gọi là máy bay hột vịt, đây là một loại máy bay rất hữu dụng trong môi trường, vừa có thể oanh kích và bắt sống.
Trên vòm trời lúc ấy, còn có một máy bay điều động C&C và một máy bay thám thính L-19 để đánh trái khói. Út và Nhân thường băng qua biên giới để vào vùng Chipu phiá Bắc của Lộc Ninh hơn 60 dặm. Nhân chẳøng thấy có một chút e ngại nào, có lẽ vì "điếc nên không sợ súng chăng" ?... Bây giờ Út đã ra đi, còn Nhân thuyên chuyển ra Pleiku. 
Tuần trước tại căn cứ Lực Lượng Ðặc Biệt này, Nhân đã được một anh em biệt kích cho chiếc áo tránh miểng lựu đạn, và chỉ cách lấy bột của lựu đạn cay, bỏ vào hộp đựng phim để phòng hờ cho việc mưu sinh. Hôm nay trở lại người anh em trong toán trinh sát đó vẫn còn đây, và đang chờ đợi cho chuyến nhảy toán kế tiếp. Những người lính thám sát này rất trẻ và vào lứa tuổi của em trai chàng. Trong khi những bạn đồng trang lứa với họ, đang vui sống phè phởn trong các đô thị, còn họ thì lặn lội trong chốn rừng đầy hiểm nguy, và không có dịp để nghĩ về tương lai của chính mình. Họ là những người lính âm thầm hoạt động trong những rừng sâu núi thẳm. Sau vài chuyến nhảy toán, họ được về thành phố sống vội, rồi trở lại căn trại nhỏ hẹp này để chuẩn bị đi vào lòng đất địch. 
***

Hợp đoàn trực thăng cất cánh lên Kontum, chờ đợi phi vụ bay vào vùng biên giới. Ban truyền tin vẫn chưa nhậân được tín hiệu của toán sáu người đang len lỏi trong đám rừng già, nơi địch quân đang trú đóng. Mọi người được lệnh nghĩ để ăn trưa. Vị sĩ quan tiền sát cho biết: "Chắc đến 1 hay 2 giờ nửa mới có kế hoạch bốc, khi toán người này ra đến gần bãi đáp." Cả đoàn rủ nhau ra phố để dùng cơm trưa, sau đó Phương rủ anh em vào một quán nước nghèo nàn bên góc phố, uống cà phê để được tỉnh táo.

Hôm ấy Phương tâm sự thật nhiều với Nhân, Phương đã tỏ bày những nỗi niềm của anh từ ngày anh xa vắng Sài Gòn, nơi người bạn gái anh hằng thư từ, và giao du trong những chuyến về phép. Phương nói về một mối tình của một cô nữ sinh, với anh.
Anh cùng cô bạn gái ấy, từng một thuở ở mái trường Ðại Học với nhiều lần hẹn hò. Giờ đây với nghiệp bay trên vai, anh hẹn với người bạn gái ngày anh thuyên chuyển về lại Thủ Ðô. Ngày ấy cũng là lúc em học xong Ðại Học Sư Phạm. Họ đã ước hẹn một tương lai thật đẹp với nhau. Lúc ấy, nàng đi dạy học và chàng quay về với nàng sau mỗi chuyến bay.
Họ sẽ sống với nhau đầm ấm bên các con của họ. Ðó cũng chính là những hình ảnh Phương và người bạn gái từng mong đợi. Họ sẽ thực hiện được ước mơ này, trong chuyến đổi về Sài Gòn vào dịp cuối năm này của Phương. Trong phi đoàn, Phương là người có một vóc dáng rất thư sinh, khuôn mặt với nước da trắng và nụ cười trên môi, anh được bạn bè quí mến, và tâm hồn luôn nghĩ về những niềm ước mơ của một nếp sống hạnh phúc thanh nhàn. 
Hôm nay Phương và Nhân nhận lãnh phi vụ bay vào lòng địch để bốc toán thám sát sáu người. Ðáng lý ra, người bay chiếc số hai của phi vụ này là Huyên, nhưng hồi 1 giờ trưa Huyên đã nhận lệnh cất cánh đi tiếp tế tại một tiền đồn gần biên giới phía Tây Bắc Kontum. Phương và Nhân cùng xem lại các dụng cụ phi hành đem theo: chiếc bản đồ có đánh dấu toạ độ, và chiếc radio cấp cứu.
Tuần trước Nhân tìm cách đổi chiếc radio của mình, vì chỉ chiếc radio cũ chỉ có phát, nhưng không nghe được tín hiệu. Phòng Tiếp Liệu Cấp Cứu Phi Hành không có radio khác để thay thế, nên anh đã tiếp tục đi bay với radio không nhận được tín hiệu Ðúng 3 giờ chiều, khi sĩ quan tiền sát báo cáo là, đã nhận được tin tức toán trinh sát đang trên đường tiến về phiá mục tiêu.
Nhân cất cánh rời phi trường Kontum. Trên vòm trời ngoài chiếc C&C của Ðại Úy Hoàng, còn có chiếc U-17 của sĩ quan tiền sát, hai chiếc GunShip, chiếc slick của Trung Úy Minh và Tuấn đi lead, chiếc của Phương và Nhân đi số hai. Nhân rời phi trường Kontum được 15 phút, bay về hướng biên giới Việt Lào, phiá Bắc của tiền đồn Charlie nơi Tr/tá Nguyễn Ðình Bảo đã ở lại vào mùa hè đỏ lửøa 1972.
Nhân tiến sâu vào những vùng núi cao của dãy Trường Sơn, bên dưới phi cơ là những khu rừng dày đặc. Lâu lâu chàng thoáng thấy vài cánh chim đang bay lượn trên vòm trời hoang vắng này. Nhân đang tiến dần đến tọa độ điểm hẹn, tiếng của Ðại Úy Hoàng gọi trong vô tuyến: 
-Số hai, vị trí bãi đáp bên phải của anh. 
Nhân trả lời: 
-Số hai, nghe năm. 
Phương bảo Nhân: "Tôi thấy dấu trái khói trên bãi đáp bên phải của tôi, bác để tôi đáp cho...", Nhân trao cần lái cho Phương. 
Khi con tàu đang hạ dần cao độ, Nhân nghe tiếng đạn AK-47 từ phiá dưới đất bắn lên, Phương báo cáo: 
-Có ground fire!... 
Bên kia vô tuyến Ð/uý Hoàng đáp lại:
-Số hai, có sao không?... Vào đáp đi! 
Phương trả lời: 
-Số hai, không sao. ... Nhận lệnh vào đáp. 
Tiếng đạn bắn lên đã ngưng, con tàu tiếp tục tiến về hướng trái khói, và giảm dần tốc độ. Bãi đáp là một mảnh đất trống nằm lọt trong những rừng cây trên triền núi cao. Nhân thấy thêm một trái khói nữa vừa tung ra trên bãi đáp, và lố nhố những người lính thám sát đang đứng cạnh một thân cây mục giữa Bãi đáp. Trong suốt đoạn đường vào bãi đáp thật yên tĩnh, một thứ yên tĩnh rất đáng lo , vì lực lượng địch quân đang trú đóng quanh đây, và nơi này cũng là nơi gần bộ chỉ huy của họ.
Con tàu chưa chạm đất hẳn, sáu người lính Lôi Hổ vội vàng nhảy lên. Phương đang giữ tàu ở vị thế Hovering, và tiếp tục cất cánh. Nhân quan sát các đồng hồ, xong nhìn lên những thân cây cao trước con tàu. Ðấy là những thân cây cao chừng 30 mét , con tàu cố gắng ngoi lên khỏi đọt cây trong tư thế nhấc thẳng vội vã, Nhân vừa thở xoà khi vừa ra được khỏi bãi đáp. 
Cùng lúc đó, có tiếng nổ chát chúa của đạn phòng không đang bắn trực xạ vào tàu, chàng nghe những tiếng bốp bốp bên phiá của Phương ngồi. Nhân thấy một lổ hổng thật lớn nơi cửa kính trước mặt của Phương, con tàu như khựng lại. 
Chàng nhìn thấy Phương đã buông cần lái và đầu cúi gục xuống. Nhân chụp vào cần lái như một phản ứng tự nhiên, chàng cố kéo cần lái để nâng mũi chiếc tàu lên. Con tàu không còn sức nâng, cần Collective và Cyclic cứng ngắc. Hệ thống Hydraulic chắc đã bị trúng đạn!... Con tàu tiếp tục lao xuống, Nhân cố kéo cần lái để bình phi. Hệ thống thủy điều đã bị phá vở nên cần lái trở nên nặng nề và rất khó điều khiển. Sau khi bình phi được rồi, con tàu lại đâm đầu xuống. 
Mọi người trên tàu nhốn nháo, ai nấy đều ở trong trạng thái kinh hoàng. 
Một thoáng suy nghĩ qua nhanh, Nhân cố gắng đưa con tàu áp vào núi, bề mặt vòng cánh quạt song song với độ dốc của núi. Con tàu cứ thế lao tới, và trước mặt là một thân cây to cao. 
Hai cánh quạt chính chặt vào cây, cánh quạt trước đã nổ tan tành, thân tàu đã xen vào thân cây. Càng đáp bên trái vừa chạm đất, thân tàu bên ghế phải của Phương gác tựa vào thân cây, đồng thời là tiếng hú của máy thật lớn!... 
Sáu anh Lôi Hổ vội vàng nhảy ra khỏi tàu, kéo cả Ðại (Cơ phi) và Tài (Xạ thủ) theo họ. Phương vẫn ngồi gục đầu trên ghế bay, Nhân tiếp tục lo tắt máy để hy vọng tắt đi tiếng ồn. 
Chàng tắt nút xăng và mọi nút khác bật vào vị trí OFF, nhưng tiếng máy vẫn hú vang cả một vùng rừng, nghe ghê rợn như một con thú bị cắt tiết. 
Nhân nhìn qua Phương một lần nữa, rồi chàng tháo nịt an toàn bước ra phiá sau, kéo theo cái túi bay. Từ phiá đằng sau ghế ngồi của Phương, chàng chồm lên phía trước Phương, cố gắng tháo dây nịt an toàn cho người bạn của mình. Nhân dùng hai tay xốc nách Phương và rán hết sức để kéo Phương ra, sau mấy lần cố gắng, nhưng không làm sao nhấc Phương ra khỏi chiếc ghế bay được.
Nhân nhìn quanh để tìm người giúp, nhưng chung quanh chỉ còn lại mỗi mình chàng. Hai người cơ phi và xạ thủ cũng đã vội vàng đi theo các anh Lôi Hổ. Nhân đành bó tay, và có ý nghĩ rằng chính Phương đã không muốn chàng liên lụy trong hoàn cảnh gian nguy này. 
Nhân nhìn lại Phương lần cuối, rồi quyết định lui bước ra phiá cửa sau để ra khỏi tàu!... 
Khi đã ra khỏi tàu, Nhân quan sát kỹ tình trạng của con tàu, chiếc cánh quạt đuôi vẫn còn đang quay tít. Một cành cây đã đập vào phần sau máy cạnh ống khói, có lẽ đó là lý do tại sao tàu không tắt máy được. Nhìn ra bờ rừng thì cây cối dày đặc, tầm nhìn không quá 10 mét. Nhân lần bước tiến lên tìm một lối đi, chợt chàng nhìn thấy một cây súng cá nhân AR-15 không có đạn. Ai đó đã bỏ lại trên lối đi, Nhân cũng không màng lượm lên. Ði được một khoảng thời gian, cái túi bay trên tay chàng trở nên nặng nề, vì trong túi bay Nhân đã để dây nịt, dao, cây súng cá nhân P-38, cùng nón bay.
Ðể khỏi vướng bận chàng chỉ lấy ra chiếc radio rồi dấu chiếc túi bên lối đi, như trút đi một gánh nặng. Nhân tiếp tục bước lên dốc núi, với đầu trần và chiếc áo bay Nomex hai mảnh trên người. Càng lúc chàng càng bước xa dần tiếng máy hú bên dưới triền dốc. Nhân cố chen qua đám rừng già, leo lên dốc được một khoảng khá xa. Tiếng hú vẫn còn ở bên dưới chân núi vọng lên.

Chàng len lỏi tiến bước, bỗng thấy trước mặt một khoảng trống thật rộng. Nhân nhận ra một thân cây mục ở giữa trảng, chàng nhớ lại đây chính là bãi đáp mà trước đó hơn 20 phút Nhân đã bốc toán Lôi Hổ. Nhận ra vị trí này, Nhân vội nép mình sau một bụi trúc tương đối rậm, và nhìn ra khoảng trống quan sát. Trên vòm trời có tiếng của chiếc U-17 đang bay trên một độ cao. Chàng chợt nhớ tới cái radio trong túi quần, Nhân lôi nó ra và mở máy liên lạc. 
-Mayday, Mayday, Mayday, Lạc-long 389 gọi Thiên-Sứ (danh hiệu của chiếc U-17 trên vòm trời) - Nếu bạn nghe được tiếng của tôi, xin lắc cánh. ... 
Nhân lập lại một lần nữa, thì thấy chiếc U-17 lắc cánh. Chàng cởi chiếc áo bay, để cởi chiếc áo lót màu trắng có loang vết máu của Phương văng vào người chàng, lúc Phương bị trúng đạn. Nhân vội mặc lại áo bay, vừa kéo chiếc áo lót trải trên một khoảng trống để cho chiếc U-17 định ra vị trí của chàng trên bãi vừa đáp. 
Chiếc U-17 xuống thấp và nhận ra vị trí của chàng. Nhân bắt đầu báo cáo tình trạng của chàng dưới đất: 
-Phương đã chết trên ghế lái, và xác còn ở lại trên tàu - Sáu anh Lôi Hổ đã dẫn theo Ðại và Tài, còn chỉ một mình tôi đang nằm cạnh bãi đáp. Khi chàng vừa nói tới đây thì thấy bên kia bờ rừng có bóng bốn người bước ra, Nhân vội thâu lại chiếc áo lót vào ngực, vặn nhỏ máy vô tuyến và gọi chiếc U-17:
-Thiên Sứ, yêu cầu bạn rời khỏi vùng để giữ an ninh cho tôi và các người bên dưới. 
Gọi xong Nhân tắt máy, chiếc U-17 nghe điều này, vội vã rời khỏi vùng. Bốn người lạ từ bên kia bờ rừng đang tiến dần ra giữa trảng. Họ chia nhau ngồi trên khúc cây khô, rồi bắt đầu trò chuyện và chờ đợi. Nhân quan sát từng người trong bọn họ, chàng thấy người nào đầu tóc cũng được húi cao như mái tóc của lính tại Bộ Tư Lệnh, cùng với áo vàng quần xanh vải kaki Nam Ðịnh. Trên tay họ đang cầm súng cá nhân AR-15 loại ngắn nòng, dành cho những người lính Lôi Hổ. Nhân tự nhủ: 
" Ðám này chính là những người lính Bắc Việt!... " Chàng vội nằm sát xuống đất không động đậy, mắt vẫn theo dõi những bóng người giữa bãi đáp. Không còn nghe tiếng máy bay ở trên trời nữa, bốn người lạ này vẫn ngồi chờ một hồi lâu. Bỗng dưng hai người trong bọn họ đứng dậy, và đi ngược dốc tiến về bờ cây để lùng tìm. Hai người này vừa đi vừa chĩa mũi súng vào các bụi cây, họ đi cặp theo bià của trảng, và dần đi về hướng bụi trúc nơi Nhân đang núp.
Tiếng hú của chiếc máy bay bên dưới đồi vẫn còn vọng lên, nghe thật ghê rợn. Hai người lạ này, càng lúc càng tiến tới gần nơi Nhân ẩn núp. Trong tay của Nhân chỉ có chiếc radio cấp cứu!... Chàng không có vũ khí để tự vệ, thì làm sao để đối phó đây? ... Những ý tưởng vút nhanh trong đầu Nhân: 
" Chắc là không còn hy vọng gặp lại gia đình nữa rồi!... Hoặc là bị bắn hay bị bắt như số phận của hai toán lính Lôi Hổ kia!... Có ai ngờ rằng chàng nằm lại nơi bìa rừng này!... Chắc là Mẹ chàng sẽ không còn nước mắt khi nghe hung tin này, ..." Nhân vẫn không quên mỗi lần về phép, Mẹ chàng thường ngồi tựa cửa sổ nhìn ra sân, như chờ đợi bóng dáng đứa con đầu lòng của Mẹ. Ðôi mắt mẹ chàng nhạt nhoà lệ, đã khóc oà lên khi nhìn thấy chàng từ đầu ngõ.
Hai người lính Bắc Việt càng lúc càng tiến gần đến chỗ chàng nằm. Phiá bên kia bụi trúc có tiếng bước chân sột soạt, mỗi lúc một gần. Nhân như điếng cả người, thân thể chàng như dí xuống sát mặt đất, mắt vẫn không rời hai bóng người đang tiến lại gần. Chàng cúi sát mặt xuống nghe ngóng và chờ đợi, bỗng có tiếng từ giữa trảng vọng lên: 
-Các đồng chí chờ chúng tôi. 
Hai tên lính Bắc Việt quay trở lại trảng phía dưới đồi, để nhập cùng với đồng bọn. Nhân từ từ thở nhẹ, mắt vẫn không rời bốn bóng người đang vội vã hướng về con dốc phía dưới, nơi chiếc UH-1 đang hú lên vì mất đi đôi cánh. Bọn họ không ngờ rằng, vẫn còn có một người đang quan sát họ từng giây, từng phút. 

***

Chờ cho bốn người kia đi đã khá xa, chàng đứng dậy và đi ngược lên về phía bên kia đồi. Chàng cảm thấy khát nước, nên với tay kéo các đọt trúc, cắn vào phần non, trắng, của lá tre, nhắp từng giọt nước hiếm hoi trong các đọt tre non này. Một lúc sau, chàng nhắm hướng Ðông-Nam (hướng Kontum) tiếp tục đi. Thuở nhỏ Nhân đã học được từ kinh nghiệm Hướng Ðạo, “dùng vết rêu trên thân cây để định hướng” bây giờ là lúc chàng áp dụng bài học mưu sinh thoát hiểm đường rừng.
Nhân nhớ lại ngày nào tại vùng rừng Savannah bên Mỹ, chàng đã cùng đám bạn học khoá mưu sinh thoát hiểm đường rừng. Kết thúc cuộc thực tập mưu sinh thoát hiểm, mọi người cùng được ăn món cháo rắn do mấy anh Cán bộ đãi, sau một ngày tập dợt mệt nhọc. Rừng ngày đó thưa thớt, tầm mắt có thể thấy xa 50 mét, còn rừng Trường-Sơn thì dày đặc, 10 mét đã không còn thấy lối đi!... 
Nhân mò mẫm qua đến được ngọn đồi thứ hai, bỗng chàng nghe nhiều tiếng lựu đạn nổ về phía con tàu. Chàng chẳng biết chuyện gì đang xảy ra cho số phận của Phương?... Nhân lại tiếp tục lội trong đám rừng già. Có những khoảng rừng mây gai góc, Nhân phải tiến bước bằng cách đưa lưng ra phiá trước chịu đựng, để xông qua đám rừng mây phủ khắp lối đi này. Những cây gai hồng trong rừng móc vào mảnh vải Nomex chàng mặc trên người, nhưng chiếc áo bay vẫn dai dẳng chịu đựng như ý chí kiên trì của chàng. 
Nhân vừa vượt qua khỏi khu rừng mây, thì thấy ngay trước mặt một bờ rừng thật trống toàn những thân tre. Chàng thấy quá trống trải nếu phải băng qua khu rừng tre này. Nghĩ vậy, Nhân tiếp tục bước cặp theo bờ rừng viền bên ngoài. Bên dưới những gốc tre, không một loại cây con nào có thể mọc, lá tre rụng trắng cả một bìa rừng. trong lúc đang tiến bước Nhân chợt nhận ra một cửa hầm cũ; phủ cây lá um tùm, chàng rụt rè bước qua cửa hầm. 

***

Nhân chợt nghe đâu đó có tiếng suối nước chảy. Càng tiến lại gần, chàng nhận thấy những dấu đất đen, dấu vết của một sinh vật nào đó đã chuồi trên các lá tre khô trắng, để lộ ra các lớp đất đen bên dưới. Nhân tiến lên thận trọng hơn, mon men theo những dấu vết này, chàng còn nhận ra có một dấu vết, dường như ai vừa chôn một cái gì đó cạnh bên lối đi, không được khoả lấp kỹ lưỡng. Càng tiến bước, chàng càng nhận ra có nhiều dấu chân ngay hướng trước mặt mình. Bất chợt, chàng nghe có tiếng sạt sạt phía trước, Nhân vội cúi thấp người xuống vừa ẩn núp vừa quan sát. Chàng nhận thấy có nhiều bóng người thấp thoáng phiá trước. 
Chàng đếm được tất cả là 7 người, và quan sát những người này từ đầu đến chân. Tất cả bọn họ đầu để tóc dài, và thắt một miếng vải xanh kaki, trên lưng có mang túi ba-lô và nhiều bình biđông nước. Nhìn xuống đất, chàng nhận ra các dấu giày của lính Cộng Hoà, Nhân quyết định nằm rạp xuống, và gọi vọng lên phiá trước: 
-Các anh Lôi Hổ ơi, ... Trung Úy Nhân đây, chờ tôi đi với.... 
Nhân nghe một loạt tiếng đạn lên nòng, những bóng người phía trước chàng đều ngồi xuống trong tư thế sẵn sàng tác xạ, mũi súng hướng về phiá chàng, quơ qua, quơ lại. Nếu họ thấy bất cứ một di động nào, là họ sẽ nổ súng ngay. Nhân nằm sát đất, không động đậy, chờ một giây lát, rồi chàng lại lên tiếng gọi một lần nữa: 
-Các anh Lôi Hổ. ... Trung Úy Nhân đây, ... chờ tôi đi với. 
Trong rừng tiếng bị dội cho nên họ không định hướng được nơi xuất phát của âm thanh. Hai người đi sau cùng của toán là Ðại và Tài nhận ra tiếng của Nhân, nên Ðại đã la lên:
-Trung Úy Nhân đây rồi, ... Ðừng bắn, đừng bắn... 
Lúc ấy Ðại đứng hẳn dậy, trong khi các người khác vẫn ghìm súng hướng về phiá tiếng vọng với tư thế sẵn sàng bóp cò nếu có gì nguy hiểm. 
Nhân cất tiếng gọi lần thứ ba, rồi từ từ đứng lên. Ðại và Tài nhận ra Nhân, hai người ùa lại phía chàng và la lên: 
-Ðừng bắn, đừng bắn... 
Mọi người hú vía, vì trong rừng già, bất cứ một vật gì nghi ngờ lay động, vật này cũng có thể là mục tiêu để mọi người bóp cò. Ðại và Tài còn đeo cây Colt-45 của họ, còn Nhân thì đã để cây súng P-38 của mình trong tuí bay, cái tuí bay này đã nằm lại bên một bìa rừng!.... 

Trưởng toán Lôi Hổ là một Chuẩn Úy mới ra trường, anh Liêm xuất thân từ trường Sỹ Quan Trừ Bị Thủ Ðức. Gặp Nhân mọi người rất mừng, và tỏ bày ân hận là suýt nữa đã bóp cò. Người Chuẩn Úy trưởng toán còn cho biết đây là chuyến nhảy toán thứ ba của anh từ ngày ra đơn vị, anh lo lắng hỏi Nhân: 

-Liệu có ai đến bốc mình không Trung Úy? 

Nhân nhìn đồng hồ, đã 5:30 giờ chiều rồi, chàng nói: 

-Các anh yên tâm. Ở nhà sẽ tìm cách bốc chúng ta ngay chiều nay. 

Nhân nói như một phản ứng tự nhiên, và chàng chẳng biết sự thực sẽ được như vậy hay không? 

Người trưởng toán thám sát đưa cho chàng bình bi-đông nước và dặn dò: 
-Trung Úy uống từng ngụm nhỏ, và từ từ thôi, nếu không ông sẽ bị ngất xỉu đó. Chàng nhận bình bi-đông nước và làm theo lời của người trưởng toán, chợt Nhân nhớ ra các tiếng nổ lựu đạn, lúc nãy chàng nghe khi còn ở trong rừng, chàng hỏi: 
-Sau lúc tàu rớt khoảng 1 tiếng, tôi nghe nhiều tiếng lựu đạn nổ về phía con tàu đang hú. Các anh có nghe thấy các tiếng nổ này không? Người trưởng toán kể lại: 
-Ðó là tiếng lựu đạn do tụi em ném. Chúng em được lệnh phải trở lại tàu để tìm bốc Trung Úy, nhưng khi tiến gần tới con tàu, tụi em thấy có bóng bốn người đang đứng cạnh tàu, nên đã tung cả chục trái lựu đạn mini, bởi vậy Trung Úy mới bắt kịp tụi em, chứ không tụi em đã rút ra xa rồi. Nhân buột miệng: 
-Thì ra là thế!... 
Mọi người tiếp tục di chuyển băng qua một ngọn đồi đầy những giây leo chằng chịt. Cả bọn cũng khá vất vả, và đang dần đi xuống dốc để đi qua một ngọn đồi khác. Chợt mọi người thấy có một con đường mòn trước mặt. Tất cả tìm cách băng qua con đường mòn này, các anh trong toán thám sát chuẩn bị theo lệnh của người trưởng toán, Nhân, Tài và Ðại cùng bám sát theo người Chuẩn Úy trẻ tuổi này. Anh Trung Sĩ nằm núp gần con lộ nhất, từ chỗ núp anh chọi một hòn đá ra giữa đường và chờ đợi.
Mọi người đều im thin thít. Nhân quan sát con lộ, đây là một con đường đất đỏ, do xe Công Binh đã xén núi mở đường, bề ngang con lộ đủ để hai chiếc xe cam-nhông có thể chạy ngược chiều nhau. Một bên bờ vách đất đỏ cao nghệu, còn bên kia là vực núi. Sau vài lần chọi đá dò dẩm mà không thấy một động tĩnh, cả toán bắt đầu rời chỗ núp, cùng leo lên con đường đất đỏ.
Tài và Ðại đi theo người thứ ba và thứ tư leo lên đường, Nhân đi theo người trưởng toán cùng người cận vệ. Anh trưởng toán cùng với Nhân leo lên bờ tường đất trước mặt, hai ngón tay Nhân còn đeo lủng lẳng cái bình bi-đông nước, chàng cố gắng bám vào các rễ cây để leo lên. Leo được 2/3 bức tường đất, Nhân làm tuột mất bình bi-đông nước;!... Chiếc bi đông lăn ra ở giữa lộ, phía sau lưng chàng không còn ai bên dưới cả. Nhân nhìn qua anh trưởng toán, anh ra dấu, đừng bận tâm nữa, Nhân gật đầu hiểu ý và tiếp tục leo lên theo người trưởng toán và anh cận vệ của anh. 
Vượt khỏi bờ tường đất xong cả đoàn lại nhắm hướng Ðông-Nam tiến bước. Chưa đầy 10 phút sau cả bọn phải dừng lại vì cơn mưa lớn đang kéo tới. Mọi người chia nhau ngồi dưới các gốc cây để trú mưa, anh trưởng toán cùng ngồi chung với Nhân dưới một gốc cây to. Cơn mưa trút nước xối xả, cả bọn ngồi co quắp lại cho đỡ ướt và đỡ lạnh. Nhân nhìn những giọt nước mưa chảy dài trên các lá cây trước mặt, chàng nghĩ bâng quơ về các chuyện vừa xảy ra trước đó.
Người Chuẩn Úy trưởng toán ngắt điếu thuốc Captain làm hai, trao cho Nhân một nửa và cùng châm lửa hút. Chàng rít một hơi thật dài, như thêm hơi ấm, để chống lại cái rét mướt của núi rừng. Tinh thần chàng cảm thấy sảng khoái, một thứ thú vị mà chàng không thể nào quên. Cơn mưa vẫn dai dẳng trút nước, Nhân co ro tìm hơi ấm qua nửa điếu thuốc được chia sẻ của người bạn đồng hành.
Bỗng dưng có tiếng xe đang chạy bên dưới, người trưởng toán ra dấu hiệu cho cả bọn ngồi im, và cố nép sát vào gốc cây để tìm sự che chắn. Bên dưới có một đoàn xe đang chạy, đoàn xe này bỗng dưng dừng lại. Nhân nghe có tiếng súng AK lên đạn, và tiếng người quát lên vọng về phía bức tường đất nơi còn để lại các vết giày và chiếc bi-đông lăn ra giữa lộ. Bọn chàng ngồi co rút bên các gốc cây và không rời chỗ núp. Có tiếng AK nổ lên hằng loạt trong cơn mưa vẫn nặng hạt. 
Ðiếu thuốc đã tàn từ lúc nào trên tay chàng, Nhân ngồi cạnh người trưởng toán, chàng tin tưởng về sự đối phó của toán người trẻ này. Nhân chỉ biết sơ qua trong thời gian thụ huấn quân sự ở trường, và chưa bao giờ đụng trận để có những kinh nghiệm như các bạn trẻ này.
Khi đi rừng họ rất giữ kỷ luật, và rất rành rẽ về bổn phận của mình. Tài và Ðại cũng bám sát theo các bạn đồng hành đầy kinh nghiệm này, trong tay thủ sẳn cây Colt-45 của mình. Mười phút sau có tiếng máy xe rú ga hằng loạt súng bắn lên. Rồi đoàn xe lại tiếp tục lăn bánh, may cho bọn Nhân là bọn chúng không leo lên, lần theo dấu vết để lục soát và truy lùng. Anh trưởng toán ra dấu cho cả bọn tiếp tục hành trình trong cơn mưa chiều, nhờ cơn mưa và rừng rậm nên sự di chuyển có phần an toàn hơn. Người trưởng toán đưa chiếc radio cấp cứu của anh cho Nhân và nhờ gọi máy bay, chàng vừa bật nút công tắc lên đã nghe tiếng: 
- .....Yêu cầu các bạn lên tiếng nếu không chúng tôi sẽ quay về. 
Nhân vội đáp lời: 
-Mayday, Mayday, Mayday, Lạc Long 389 nghe bạn rõ. 
Mọi người ai nấy mừng rỡ, anh Chuẩn Úy lo lắng hỏi Nhân: 
-Liệu họ có bốc mình ngay chiều nay không Trung Úy?... 
Chàng gật đầu đáp: 
-Hy vọng có chúng tôi ở đây, họ sẽ cố gắng bốc ngay chiều nay. 
Chiếc máy bay L-19 đã nghe được tín hiệu của chàng, nên hỏi tiếp: 
-Các bạn có thấy chiếc tàu bay nào trên không phận không? Nhân đáp lại: 
-Chúng tôi đang ở bên duới, phiá cánh bên phải của anh.Nhân kêu mọi người: 
-Mọi người trải các tấm panô vải màu cam lên trên các tàng cây để đánh dấu vị trí của mình. Xong Nhân gọi: 
-Bạn có thấy những tấm vải panô màu cam chúng tôi đánh dấu không? 
-OK... Chúng tôi đã nhận ra vị trí của bạn. 
Chiếc L-19 reo lên trong chiếc radio tìm cứu, Nhân nói tiếp : 
-Các bạn trên L-19 cho biết chỉ thị đi!... 
Nhìn con tàu như cánh chuồn chuồn trên vòm trời chiều ảm đạm dưới cơn mưa, Nhân xót xa thương cảm cho những người bạn đang xả thân đi vào vùng binh lửa, để cứu vớt bạn đồng đội mình. 
-Lạc Long, yêu cầu các bạn tiến về hướng Tây 50 mét, xong rẽ phải và chờ chỉ thị kế tiếp.Nhân thấy trời sắp tối rồi, nên vội đáp : 
-Lạc Long nghe năm. Nhưng tôi yêu cầu bạn bay thấp, và định hướng cho chúng tôi di chuyển thì nhanh hơn. Bạn nghe rõ trả lời?... Sau vài phút chờ đợi, chiếc L-19 bay thấp qua đầu Nhân để chỉ hướng ra bãi bốc. Mọi người cùng chạy vội theo hướng chỉ dẫn này. Bãi bốc là một vùng đất khá rộng, chung quanh còn thấy các hố bom. Nhân và mọi người lựa một chỗ khá trống trải để làm bãi đáp. 
-Lạc Long, bạn cho thả trái khói để trực thăng đến bốc các bạn 
-Lạc Long, nghe năm trên năm. 
Người trưởng toán Lôi hổ nghe theo liền tung ra trái khói đỏ, rồi một người nữa tung thêm một trái khói đỏ khi nghe tiếng trực thăng tiến lại gần. 
-L-19, chúng tôi đã đánh dấu khói đỏ tại bãi đáp. 
-Lạc Long, trực thăng đã thấy bãi đáp. Chúc các bạn An Lành trở về. 
-L-19, cám ơn sự giúp đỡ của bạn. 
Nhân quay lại nhìn những người đồng hành với mình, Ðại và Tài bám sát kế bên, trong khi đó toán Lôi Hổ canh gác bãi đáp. Nhân nhìn đồng hồ đã 7 giờ 50 tối, chỉ cần 10 phút nữa là trời sẽ tối hẳn, sẽ không còn sự an toàn để việc thực hiện việc tìm cứu như thế này. Nhân e ngại nhìn chiếc trực thăng đang tiến vào bãi đáp chật hẹp, bên dưới nhiều cây con lô nhô chĩa ngang chĩa dọc. Chiếc trực thăng tìm cứu từ từ hạ xuống, nhưng vẫn giữ ở vị thế hovering, để cả chín người cùng leo lên: Nhân, Tài, Ðại và sáu anh lính Lôi Hổ sau cùng đã lên tàu. Các anh em cơ-phi và xạ thủ trên tàu clear chung quanh để tàu cất cánh, và họ cũng không quên bắn hằng loạt đạn M60 vào bìa rừng, để uy hiếp.

Nhân nhìn qua ghế lái thấy Trung Úy Nguyễn Ðình Minh, trưởng phi cơ và Lâm Minh Tuấn hoa tiêu phó. Khi tàu lấy được cao độ an toàn, Minh báo cáo trên vô tuyến xong rồi trao cần lái cho Tuấn. Minh nhìn mọi người tươi nụ cười hiền hòa. Minh quay ra sau bắt tay Nhân và Chuẩn Úy Liêm trưởng toán Lôi Hổ đang đứng sau lưng ghế lái. Tàu đổi hướng đi thẳng về Pleiku thay vì về đáp tại Kontum.

***

Miêng mang trong những kỷ niệm, Nhân quên cả thực tại, thời gian và không gian, quên cả sự hiện hữu của các hành khách trên chuyến C47 chiều nay. Bên cạnh anh cô Hoá vẫn thăm dò những cử chỉ và chờ đợi, rồi nàng cất tiếng: 

- Anh đang miêng mang chuyện gì mà nét mặêt buồn vậy?...Nhân như được đánh thức trở lại với thực tại, và đáp lời cô gái: 

- Tôi đã nghĩ về sự mất mát trong chiến tranh, và những chia cách của những người tình của “Lính”, và gia-đình của họ qua một phi vụ hai tuần trước đây. 

- Anh kể lại cho Hoá nghe với. 

Chàng gật đầu như thoả thuận. Chàng hứa hẹn với Hoá là sẽ kể trong những ngày ghé Huế, về những kỷ niệm trong phi vụ ấy, một chuyến bay với bao hiểm nguy, đã mất đi một người bạn - một chiến hữu và một con tàu. Chiếc C47 bắt đầu giảm tốc độ và chuẩn bị để đáp, con tàu sau khi lượn một vòng qua thành phố đã hạ cánh đáp nhẹ nhàng trên phi đạo, và đang tiến qua taxiway để vào đậu cạnh khu hàng hoá của trạm Hàng Không Quân Sự Ðà Nẵng. Hành khách theo nhau xuống tàu, Nhân chợt thấy một chiếc xe pickup màu xanh Không Quân chạy ra, chàng nhận ra Trung Úy Kim, một người bạn cùng khoá 7/68 Không Quân, anh cho xe chạy gần lại. Nhân nói nhỏ với Hoá: 

- Hoá chờ một chút, để tôi nhờ anh Kim đưa chúng mình ra phố. Nàng gật đầu, và cố nán lại gần bên chàng thay vì đi theo những hành khách để đi vào trong. 

Kim thấy Nhân cùng cô gái nên reo lên chào hỏi: 
- Anh Nhân khoá 7/68 KQ đó phải không? Nhân trả lời: 
- Nhân đây, Anh khoẻ không? 
Kim gật đầu và nói: 
- Anh chị đứng đây chờ tôi một chút nghe, để tôi ghé qua nói với phi hành đoàn, đểø cho hành khách lên, và họ sẻ bay trở về lại Sài Gòn ngay. 
Nhân ghé qua Hoá nói: 
- Anh Kim là bạn cùng nhập ngũ vào Không Quân, và hiện là trưởng trạm Hàng Không Quân Sự của phi trường Ðà Nẵng. 
Nàng cúi đầu chào: 
- Hoá chào anh Kim. 
Kim chào và tiến về phiá phi hành đoàn vừa xuống tàu. Nhân hỏi thăm nàng: 
- Chiều nay em về đâu? 
Hoá trả lời: 
- Em định ghé lại nhà người bà con ở đường Phan Thanh Giản, và sáng mai em đón xe ra Huế, còn anh?... Chàng trả lời: 
- Tôi đi thăm mấy người bạn, và hẹn gặp lại Hoá tại Huế.Hoá viết điạ chỉ của gia-đình ở Huế trên tấm giấy nhỏ và đưa cho chàng: 
- Ðây là điạ chỉ của em ở Huế, khi anh ra Huế mời anh ghé thăm.Chàng nhận mảnh giấy nhét vào túi áo bay và nói:
- Ngày mốt anh (bổng dưng chàng đổi cách xưng hô) ghé lại được không? 
Nàng trả lời: 
- Dạ được, em sẽ chờ anh...Chàng hứa hẹn: 
- Anh sẽ đưa em đi thăm vùng Kim-Long, Thiên-Mụ và ghé quán bánh bèo bên dưới chân đồi Thiên-Mụ.Nàng cũng không quên nhắc chàng: 
- Và nhớ kể lại chuyến phi vụ làm anh buồn nữa nghe, em chờ anh đó.Nhân gật đầu và đưa tay ra – như lối bắt tay của lính – Hoá cũng đưa tay ra bắt và họ ngầm như có một thoả ước. Nhân thấy xe của Kim tiến lại gần chào nói: 
- Nhân và chị lên xe, tôi đưa ra phố... 
Nhân và Hoá gật đầu cảm ơn, và ngồi vào băng ghế phía trước với Kim, xong chàng lên tiếng hỏi Kim: 
- Anh ở lại làm việc trể quá vậy! 
Kim đáp lại: 
- Anh chị biết không, giờ giấc của chúng tôi bất thường lắm, chúng tôi tùy thuộc vào phương tiện theo các chuyến bay ghé đáp và rời Ðà Nẵng, để xếp đặt di chuyễn hàng hóa, quân nhân và gia-đình.Kim nói tiếp: 
- Tôi đã liên lạc máy và cho hành khách ra tàu rồi. Nhân thấy một xe buýt chở hành khách tiến về chiếc C47. Kim nán chờ cho đến khi các hành khách lên tàu xong, chiếc C47 đóng cửa và mở máy cất cánh lúc ấy Kim mới cho xe chạy, chàng quay qua: 
- Xin lổi Nhân và chị nghe, tôi đã bắt hai người phải chờ, anh chàng cũng dí dỏm: 
- Lâu quá hôm nay mới được làm tài xế cho ông bạn phi-công và chị đây!...Nhân xoay qua: 
- Anh xong việc chưa? Nếu xong chúng ta ghé ra phố chơi được không anh Kim?...Kim trả lời: 
- Tôi sẽ đưa anh chị đi!... 
Hoá xen vào: 
- Xin anh cho Hoá xuống đường Phan Thanh Giản, để hai anh chuyện trò lâu ngày gặp lại!...Nhân cũng phụ hoạ vào: 
- Anh Kim, chắc Hoá cũng mệt với chuyến bay vưà rồi, anh chiều theo ý của cô, sau đó chúng ta đi phố. 
Kim Tiếp: 
- Tiếc quá, mấy khi gặp được Nhân và chị đây!... 
Nhân tiếp lời cho Hoá: 
- Không sao, còn nhiều dịp mà - phải không Hoá?...Kim cho xe rẽ qua đường Phan Thanh Giản, Hoá chỉ một căn phố gần ngã tư, Kim hiểu ý và tấp vào lề; dừng lại trước căn phố. Nàng cất tiếng: 
- Hoá chào tạm biệt; hai anh đi chơi vui nghe, Hoá chào anh Kim... 
Nhân vói tay qua mở cửa xe, Nàng và Nhân bước xuống. Nàng quay qua Nhân: 
- Ngày mốt em chờ anh tại nhà mẹ em ở Huế, anh nhớ nghe?... 
Nhân gật đầu, đưa tay ra bắt, cô nàng cũng đưa tay ra bắt và siết nhẹ với đôi mắt long lanh, và nụ cười hiền hoà. Chờ cho cô gái khuất vào trong nhà xong, Nhân lên xe, Kim cho xe chạy ra bến Bạch Ðằng và đậu bên một quán cặp bờ nước. Hôm ấy cả hai đã có dịp chuyện trò về những buồn vui của đời lính, về thân phận của mình trong từng vị trí hiện hữu, Kim cũng kể lại những cảm nghĩ vui buồn, và nhất là những mất mát mà anh đã chứng kiến trong những trận pháo kích vào phi trường vào đơn vị của anh. Hôm nay gặp lại bạn cũ họ đã vui tạm qua một chầu rượu, đễ rồi sau đó ai nấy trở lại với thực tại, với bổn phận và trách nhiệm của mình. 

***

Trong hơi men Nhân nhìn ra bờ nước nơi những ánh đèn chập chờn, chàng lại đắm vào những miêng mang của phi vụ hiểm nguy trước đây, nhìn qua bóng đêm nơi xa kia là dảy Trường Sơn, phiá xa xa thành phố nhà nhà đã lên đèn. Trên trời cao những vì sao đã lấp lánh, bên dưới là dãy Trường Sơn, với những bờ rừng âm u đang chìm khuất trong bóng đêm đen như mực.
Nhân vẫn không tưởng tượng được phi vụ hiểm nguy ấy là có thật. Trung Úy Phan Văn Phương đã vĩnh viễn nằm lại dưới cánh rừng âm u kia. Ở Sàigòn, vào lúc này, vẫn còn một cô giáo đang chờ đợi Phương trở về, với lời ước hẹn sẽ cùng xây tổ ấm nơi phố thị vào dịp hoán chuyển cuối năm. Giờ đây người Không quân tác chiến này không bao giờ thực hiện được lời ước hẹn này với cô!...
Chiến tranh và số mệnh đã lấy đi tất cả những ước hẹn của Phương và một cô giáo đang mong chờ Phương. Chiến tranh cũng đang thản nhiên lấy đi một người bạn hiền của Nhân, và đang đổ sự tang tóc oan nghiệt đến gia đình Phan Văn Phương!.... Trung uý Phan Văn Phương bình thản, xuôi tay trong con tàu của mình, sau một phi vụ không hề biết trước được lúc kết thúc. Phan Văn Phương để lại sinh mạng của mình ở chiến trường Tây Nguyên, như bao anh hùng của thời đại, Nguyễn Ðình Bảo, Nguyễn văn Ðương, và nhiều người khác nữa ...

Những anh hùng không tiếc một điều gì cho đất nước, cho dân tộc, cho những chiến tích muôn đời nơi vùng biên giới này. Nguyện cầu cho Phan Văn Phương sẽ hoá thành một loài chim trên vòm trời xanh thật an bình. Nơi vùng trời này sẽ không còn hận thù, không còn những nổi niềm đau xót về đất nước, về thân phận con người, về số phận quá mong manh trước chiến tranh và bom đạn điêu linh. 

Phan Minh

Audio book

Thursday, May 13, 2021

MỤC TIÊU OSCAR 8 BY: SGM WILLIAM (BILLY) WAUGH

GIỚI THIỆU

        Mục tiêu Oscar-8 nằm cách căn cứ Khe Sanh 18 cây số về hướng nam, trên đất Lào. Oscar-8 có chiều dài theo hướng bắc-nam 1 cây số, bề rông theo hướng đông-tây 3 cây số, nằm trong khu vực lòng chảo với vách núi bao quanh theo hình móng ngựa, và được bảo vệ với hỏa lực phòng không rất mạnh mẽ. Đường 922 đi từ hướng tây sang đông ngang qua Oscar-8 vào khu vực thung lũng A Shau (cách khoảng 15 cây số), trong phần đất nam Việt Nam. Có một giòng suối chạy ngang qua mục tiêu Oscar-8, rất thuận tiện cho các đơn vị Bắc Việt lập căn cứ, binh trạm.

         Mục tiêu Oscar-8 được đơn vị SOG chú ý đặc biệt, khi nhận được báo cáo sau đây:

1.     Phi cơ gián điệp U-2 báo cáo, có nhiều xe cộ của địch di chuyển trong khu vực khi trời tối hoặc lúc không có phi cơ thám thính.

2.     Tin tình báo cho biết, trong mục tiêu Oscar-8 lúc nào cũng có một đơn vị Bắc Việt khoảng 1500 binh lính bảo vệ 24/24.

3.     Một báo cáo “đặc biệt, khẩn”, trong mục tiêu Oscar-8 có một sĩ quan cao cấp trong quân đội Bắc Việt (Võ Nguyên Giáp? Tổng Tư Lệnh Quân Đội Bắc Việt) đến thanh tra, thăm viếng. 

 LỆNH HÀNH QUÂN

        Bộ chỉ huy đơn vị SOG trong Saigon ra lệnh cho bộ chỉ huy Bắc (CCN) ngoài Đà Nẵng, soạn thảo kế hoạch hành quân, cho một đơn vị tấn công mục tiêu Oscar-8, phát xuất từ căn cứ hành quân tiền phương Phú Bài. Bộ chỉ huy Bắc phải thực hiện những điều sau đây:

1.     Đưa một trung đội Hatchet Force do sĩ quan LLĐB/HK chỉ huy vào khu vực hành quân càng sớm càng tốt (ASAP). Trong trường hợp này có thể xử dụng hai trung đội Hatchet Force với 55 biệt kích quân người Thượng, 4 cấp chỉ huy LLĐB/HK. Đơn vị sẽ được trực thăng đưa vào vùng hành quân, không được chậm trễ hơn ngày 4 tháng Năm 1967.

2.     Phải cố gắng giết hoặc bắt sống sĩ quan cao cấp của địch (Tướng Giáp). Tiêu diệt tất cả những đơn vị của địch gặp phải, trên trục tấn công.

KẾ HOẠCH HÀNH QUÂN

        Ngày hành động (D-Day), trước giờ hành động 1 giờ (H-1, 6 giờ sáng), chín pháo đài bay B-52 bay theo đội hình chiến thuật (V) sẽ thả bom trên mục tiêu Oscar-8.

        Ngày hành động (D-Day), giờ hành động (H, 7 giờ sáng), 58 biệt kích quân thuộc đơn vị Hatchet Force, phát xuất từ căn cứ hành quân tiền phương 1 (FOB-1), Khe Sanh, sẽ được trực thăng CH-46 (giống như CH-47 Chinook của Lục Quân Hoa Kỳ) TQLC/HK đưa vào trung tâm mục tiêu Oscar-8.

        Đơn vị tấn công phải càn quét mục tiêu Oscar-8 đã bị pháo đài bay B-52 dội bom. Tìm cách bắt sống “nhân vật quan trọng” (Võ Nguyên Giáp), tình nghi đang hiện diện trong khu vực.

        Tiêu diệt, phá hủy các căn cứ của địch trong mục tiêu Oscar-8 trước khi triệt xuất vào lúc 3:00 giờ chiều cùng ngày.

        Đơn vị tham dự trận tấn công trở về căn cứ hành quân tiền phương Khe Sanh, báo cáo, tổng kết trận tấn công. Tất cả tù binh phải được đưa đến khu thẩm vấn trong căn cứ.

KẾ HOẠCH KHÔNG YỂM

        Những loại phi cơ được dành sẵn cho đơn vị SOG theo lệnh của bộ tư lệnh Không Lực 7 Hoa Kỳ (The 7th Air Force).

        Chín (9) pháo đài bay B-52 thà bom mục tiêu Oscar-8 lúc H-1 giờ (6 giờ sáng).

        Ba (3) trực thăng CH-46 của TQLC/HK để chở quân, đưa đến bãi đáp, đã chọn sẵn trong mục tiêu Oscar-8.

        Bốn (4) trực thăng H-UID võ trang đánh dọn bãi cho chuyển đổ quân, và yểm trợ cho lực lượng tấn công.

        Hai (2) khu trục A1E (ứng chiến) yểm trợ cho đơn vị tấn công Hatchet Force.

        Ban chỉ huy Không Trợ “Hillsboro” sẽ được thiết lập bay cách mục tiêu Oscar-8 20 cây số, để chỉ huy, điều động tất cả các phi cơ chiến thuật tham dự cuộc hành quân.      

        Bốn (4) phản lực cơ F-4 bay bao vùng, sẽ đến mục tiêu trong phòng 3 phút khi cần đến.

        Hai (2) trực thăng H-34 của đơn vị SOG, ứng chiến trong trường hợp cấp cứu.

        Hai (2) phi cơ thám thính O-1 (FAC) bay bao vùng cho cuộc hành quân.

 LẦN THUYẾT TRÌNH CUỐI CÙNG

        Lúc 4:00 giờ chiều ngày 3 tháng Năm 1967, vị chỉ huy trưởng căn cứ hành quân tiền phương (FOB-1) Khe Sanh chủ tọa buổi họp cuối cùng cho các sĩ quan phi công TQLC/HK, đơn vị Hatchet Force, phi công trực thăng H-34 của đơn vị SOG, và phi công FAC. Cuộc hành quân sẽ bắt đầu đúng 7:00 giờ sáng ngày 4 tháng Năm 1967.

DIỄN TIẾN HÀNH QUÂN

        Đúng 4:00 giờ sáng, ngày 4 tháng Năm, phi công FAC, thiếu tá Alexander cất cánh trên chiếc phi cơ quan sát O-2 bay lên do thám khu vực gần mục tiêu. Thời gian bay cho loại phi cơ này từ Khe Sanh đến mục tiêu là 35 phút.

        Phi cơ FAC bay đến mục tiêu từ hướng tây, cách mục tiêu Oscar-8 khoảng 15 cây số về hướng nam. Thiếu tá Alexander thiết lập sự liên lạc với trung tâm hành quân trong căn cứ Khe Sanh, sau đó cùng với người ngồi ghế sau Waugh, chờ đợi trận thả bom của phi cơ B-52, dưới danh hiệu “Pháo Binh Hạng Nặng” (Heavy Artillery).

        Lúc 5:45 phút, tôi cùng thiếu tá Alexander theo dõi đường chân trời nơi hướng đông và hướng nam. Vẫn chưa thấy chiếc phi cơ nào xuất hiện trên bầu trời, chúng tôi hướng về mục tiêu Oscar-8, trông thấy vài đám khói ở dưới, các binh sĩ Bắc Việt chắc đang nấu bữa cơm sáng.

        Đúng 6:00 giờ sáng, ba phi tuần, mỗi phi tuần ba chiếc B-52 thả bom xuống mục tiêu Oscar-8. Chứng kiến trận B-52 thả bom từ xa, khi chiếc phi cơ B-52 cuối cùng ra khỏi tầm mắt, thiếu tá Alexander và tôi (Waugh) biệt kích SOG, ngồi ghế sau phi cơ quan sát bao vùng, bay trên mục tiêu Oscar-8 để quan sát. Chúng tôi nhìn xuống khúc đường 922 đến chân núi, trông thấy ít nhất 30 người Lính Bắc Việt đang lo dập tắt mấy đám cháy. Một nhóm khác khoảng 15-20 binh sĩ Bắc Việt đang lăn những thùng nhiên liệu ra đến chỗ an toàn, tránh những ngọn lửa. Nhiều căn chòi trong căn cứ bị cháy. Và đạn đại liên phòng không 12 ly 7 của quân đội Bắc Việt đặt trên sườn núi bắn lên phi cơ dữ dội.

        Tôi liên lạc với mấy trực thăng CH-46 chở quân đến bãi đáp. Nơi phiá đông mục tiêu Oscar-8, hai trực thăng võ trang TQLC đã vào trước, đang bắn dọn bãi đáp. Cả hai trực thăng võ trang đều bị hỏa lực phòng không bắn rơi gần bãi đáp.

        Chứng kiến hai chiếc trực thăng võ trang bị bắn rơi, cà hai chúng tôi, thiếu tá Alexander và tôi cùng báo động trên hệ thống truyền tin, cho mấy trực thăng chở quân CH-46 tránh ra chỗ khác, đừng đưa quân vào bãi đáp. Nhưng cuộc đổ quân đang tiến hành, không ngưng lại được...

        Cả hai lại phải chứng kiến cảnh hãi hùng, Cả hai trực thăng chở quân CH-46 đều bị bắn rơi, khi chưa đáp xuống bãi đáp. Cả hai chiếc đều trúng đạn phòng không khi còn cách mặt đất khoảng 50-100 thước, rơi xuống bãi đáp. Chúng tôi trông thấy những người lính biệt kích trong đơn vị Hatchet Force đang chạy ra khỏi hai chiếc trực thăng. Bấy giờ mấy khẩu đại liên phòng không trên sườn núi hướng mũi súng xuống bãi đáp, bắn giết đám lính biệt kích còn kẹt trong bãi đáp trực thăng.

        Thiếu tá Alexander cho chiếc FAC O-2 lên cao độ 4000 bộ, liên lạc với ban chỉ huy “không trợ” Hillsboro bay ở độ cao 10000 bộ, tôi báo cáo về vị chỉ huy trưởng căn cứ hành quân tiền phương ở Khe Sanh.

        Chúng tôi quan sát mục tiêu Oscar-8, mấy khẩu súng phòng không Bắc Việt tỏ ra rất hiệu qủa bảo vệ căn cứ. Họ nhắm vào tất cả các máy bay trên vùng trời Oscar-8. Hai trực thăng H-34 vẫn can đảm bay vào bốc những binh sĩ sống sót. Một chiếc bị trúng đạn nổ tung rơi trên đường 922, chúng tôi trông thấy phi hành đoàn trực thăng từ trong chiếc H-34 lâm nạn chui ra, chạy về hướng nam con đường 922.

        Tiếp theo, hai phản lực cơ F4 Phantom lên oanh kích. Chiếc FAC điều động đánh vào sườn núi, để phá mấy khẩu phòng không. Một chiếc F4 bay vòng bảo vệ cho chiếc thứ hai lao xuống bắn hỏa tiễn. Đạn phòng không bắn lên trúng cánh máy bay, chiếc phản lực cơ F4 Phantom nổ tung giữa bầu trời, không thấy cánh dù nào bung ra (phi công nhẩy dù ra), rơi xuống đất bốc cháy như qủa cầu lửa.

        Kế tiếp là hai khu trục cơ A1 Skyraider bay vào tấn công. Một chiếc lao xuống thấp để thả bom Napalm, bị đạn phòng không bắn tung ra nhiều mảnh, đâm vào vách núi, cũng không thấy viên phi công nhẩy dù ra.

        Đúng lúc đó, chiếc FAC nhận được lời yêu cầu “không trợ” từ đơn vị Hatchet Force ở dưới đất. Một sĩ quan chỉ huy cùng 25 binh sĩ Thượng chạy đến tránh đạn nơi hai hố bom. Viên sĩ quan có vẻ không được bình tĩnh, yêu cầu thả bom Napalm hoặc bom Custer cách vị trí phòng thủ của họ 30 thước. Tôi trấn an anh ta trước rồi xin cho biết con số người sống sót chính xác.

        Vị trí của đơn vị Hatchet Force nơi hai hố bom được nhìn thấy dễ dàng nằm giữa hai tấm pa nô mầu đỏ. Tôi nhìn đồng đồ, 8:00 giờ sáng, hai tiếng đồng hồ trôi qua, sau khi các pháo đài bay B-52 trải “thảm bom” trên mục tiêu Oscar-8. Chúng tôi chuyển tiếp yêu cầu “không trợ” lên Hillsboro, họ cũng mục kích trận đánh từ trên cao, cũng như chúng tôi trên chiếc FAC.

        Tôi gọi máy về căn cứ hành quân tiền phương Khe Sanh, gặp trung tá harold K. Rose để báo cáo. Tôi yêu cầu ông ta chuẩn bị giấy viết và ngồi xuống ghế, sợ rằng nghe con số “đại bàng” (phi cơ) bị bắn rơi, ông ta sẽ “chết giấc”.

        Tôi báo cáo như sau: (1), (2), hai chiếc trực thăng chở quân CH-46 bị bắn đứt làm đôi rơi trên bãi đáp. (3) Một trực thăng võ trang rơi trên bãi đáp. (4) trực thăng H-34 vào cứu bị bắn rơi trên đường 922. (5) Phản lực cơ F4 Phantom bị bắn rơi, viên phi công không nhẩy dù ra. (6) Khu trục cơ A1 đâm vào vách núi, cũng không thấy dù bung ra. (7) Vị trí hai hố bom, các quân nhận trong đơn vị Hatchet Force đang cố thủ. 

        Tôi cũng báo cáo, ban chỉ huy “không yểm” Hillsboro đã chuẩn bị tám phi tuần phản lực thay phiên nhau lên oanh kích cách nhau trong vòng năm phút. Ngoài ra Hillsboro cũng đã xin trực thăng CH-53 từ bên Thái Lan qua cấp cứu. Trong khi đó một phi cơ quan sát FAC khác lên bao vùng để chúng tôi quay về Khe Sanh lấy thêm nhiên liệu.

        Khi về đến căn cứ hành quân tiền phương Khe Sanh, tôi trông thấy hai chiếc H-34 thuộc phi đoàn 219 Việt Nam “King Bee” sắp cất cánh. Tôi vội nhẩy lên một trong hai chiếc nắm chân viên phi công Mustachio, nói với anh ta, tôi biết chỗ chiếc H-34 rơi trên đường 922 và phi hành đoàn đang trốn trên rặng núi nơi hướng nam con đường. Anh ta rất sốt sắng cất cánh.

        Chiếc trực thăng bay từ hướng tây đến mục tiêu. Tất cả mọi cặp mắt đều nhìn xuống tìm kiếm dấu vết phi hành đoàn chiếc trực thăng rơi trên đường 922 và bốc cháy. Mustachio và tôi trông thấy có tia sáng phản chiếu từ gương. Lập tức Mustachio lái chiếc trực thăng cũ kỹ H-34 bay vào vị trí phát ra tia sáng phản chiếu từ tấm gương. Chiếc trực thăng trúng đạn phòng không nhiều chỗ, nhưng Mustachi vẫn tìm ra được một khoảng trống nhỏ để hạ thấy chiếc trực thăng xuống. Khả năng này chỉ một mình anh ta làm được.

        Tôi và viên cơ khí trưởng nắm tay ba người phi hành đoàn chiếc trực thăng lâm nạn kéo họ lên trực thăng. Khi đã kéo lên đủ cả ba người, tôi vỗ vào chân Mustachio và anh ta cho chiếc trực thăng bốc lên cao giữa rừng đạn đại liên phòng không. Anh ta tránh đạn bằng cách rẽ chìéc trực thăng qua bên phải, ngang qua những cây nhỏ, cánh trực thăng chém vào cành cây nhỏ cũng... chưa sao.

        Tiếng cánh quạt trực thăng nghe khác thường, một trong bốn cánh đã bị hư hỏng vì chém vào cành cây. Tuy nhiên người phi công thượng hạng Mustachio vẫn lái chiếc trực thăng lết về đến Khe sanh. Tôi nhìn cả ba người trong nhóm phi hành đoàn lâm nạn, cả ba bị phỏng nhẹ, cười nói vui vẻ vừa mới được cứu thoát.

Dallas, TX May 10th 2010

vđh


How a daring mission behind enemy lines turned into a disaster for the US's secretive Vietnam-era special operators

How a daring mission behind enemy lines turned into a disaster for the US's secretive Vietnam-era special operators 
Stavros Atlamazoglou
Tue, May 11, 2021, 5:27 AM
Two US Air Force Bell UH-1P helicopters from the 20th Special Operations Squadron fly into Cambodia, around 1970 US Air Force/Capt. Billie D Tedford
  • In May 1967, US special operators and Vietnamese troops went behind enemy lines to take out North Vietnam's top general.

  • The mission led by the secretive MACV-SOG quickly went wrong, and US forces spent days fighting just to keep them alive.

  • See more stories on Insider's business page.

Fifty-four years ago, a group of American and indigenous commandos fought for their very lives in a small, far away valley in one of the boldest special-operations missions of the Vietnam War.

Codenamed Oscar-8, the target was the forward headquarters of the North Vietnamese Army's 559th Transportation Group and its commander, Gen. Vo Bam, located alongside the Ho Chi Minh trail complex, which ran from North Vietnam to South Vietnam and passed through Laos and Cambodia.

US commanders had intelligence that Gen. Vo Nguyen Giap, North Vietnam's top general, was visiting the area. A plan was quickly hatched to kill or capture Giap. US commanders gave the mission to a highly secretive special-operations unit.

The secret warriors of a secret war

A Studies and Observations Group (SOG) team reconnoiters the Ho Chi Minh Trail in Laos. SOG

Military Assistance Command Vietnam-Studies and Observations Group (MACV-SOG) was a highly classified unit that conducted covert operations across the fence in Laos, Cambodia, Thailand, and North Vietnam.

Successive US administrations claimed American troops didn't operate outside of South Vietnam, so SOG was a tightly kept secret.

It was a standard operating procedure for any commandos who went across the border never to carry anything that could identify them as US service members. Their weapons didn't have serial numbers, and their uniforms didn't have names or ranks.

SOG was composed primarily of Green Berets, Navy SEALs, Reconnaissance Marines, and Air Commandos. They advised and led local forces, from South Vietnamese SEALs to Montagnard tribesmen who had lived there for hundreds of years.

During the Vietnam War, about 3.2 million service members deployed to Southeast Asia in combat or support roles. Of them, 20,000 were Green Berets, and out of those, only 2,000 served in SOG, with only 400 to 600 running recon and direct-action missions across the fence.

Although only the best served in SOG, luck and constant vigilance were necessary to survive. Many seasoned operators died because their luck ran out or because they became complacent.

A bold mission

 
A CH-46 helicopter prepares to pick up a load of supplies at Khe Sanh in South Vietnam, February 22, 1968. Bettmann/Getty Images

Oscar-8 was a bowl-shaped area in Laos, only about 11 miles from the US Marine base at Khe Sahn in northern South Vietnam. The area was about 600 yards long and 2 miles wide and surrounded by thick jungle.

The mission was given to a "Hatchet Force," a company-size element that specialized in large-scale raids and ambushes. It was composed of a few Special Forces operators and several dozen local Nung mercenary troops, totaling about 100 commandos.

Several B-52 Stratofortress bombers would work the target before the SOG commandos landed.

The Hatchet Force's mission was to sweep the target area after the B-52 bombers had flattened it, do a battle damage assessment, kill any survivors and destroy any equipment, and capture or kill Giap. The plan was to insert at 7 a.m., one hour after the B-52 run, and be out by 3 p.m.

To support them, SOG headquarters put on standby several Air Force, Marine, and even Navy fixed- and rotary-wing squadrons.

All in all, there were three CH-46 Sea Knights helicopters to ferry in the Hatchet Force, four UH-1 Huey gunships for close air support, two A-1E Skyraider aircraft for close air support, four F-4C Phantom fighter jets for close air support, two H-34 choppers for combat search and rescue, and two forward observer aircraft to coordinate tactical air support.

Disaster at Oscar-8

 

A UH-1 Huey gunship flown by the Green Hornets in support of SOG missions. Courtesy photo

As the sun began rising, nine B-52 bombers dropped 945 unguided high-explosive bombs, more than 236 tons of munitions, on the North Vietnamese headquarters and the adjoining positions.

Minutes after the B-52s finishing refurbishing the area, a forward air controller flying overhead spotted North Vietnamese troops coming out of the jungle and putting out the fires.

The enemy numbers continued to swell, and it quickly became clear to the seasoned SOG operators who were coordinating the fight from above that the North Vietnamese had largely managed to escape the onslaught from above.

Sgt. Maj. Billy Waugh, a legendary Special Forces operator and later a CIA paramilitary officer, radioed headquarters and advised aborting the inbound Hatchet Force, which was due to touch down 15 minutes after the last B-52 bomber had bombed the target. He was too late.

The first two CH-46 Sea Knight helicopters full of men were shot down, as were two UH-1 Huey gunships that were providing close air support. An H-34 chopper attempting a rescue was also shot down.

The SOG force was immediately pinned down and had to take shelter in the bomb craters that pockmarked the area. Only the Hatchet Force's firepower saved them from being overrun by the vastly numerically superior enemy.

Meanwhile, a pair of F-4 Phantom jets came in low to cover the survivors, but they also took heavy anti-aircraft fire, and one fighter was shot down, the pilot going down with his plane.

A pair of A-1E Skyraiders then came in to provide close air support, but they too received overwhelming anti-aircraft fire, and one of them crashed.

A Green Hornet gunner firing on a target with an M134 mini-gun. Courtesy photo

There were about 45 SOG commandos taking cover inside two craters under heavy fire from the enemy on the ground. The American team leader requested napalm and cluster bombs to be dropped within 100 feet of their perimeter.

Meanwhile, another Hatchet Force was quickly assembled to act as a quick reaction force, while aircraft bound for North Vietnam on unrelated were redirected over Oscar-8 to keep the battered SOG commandos alive.

The North Vietnamese continued to fend off or shoot down any aircraft that tried to exfiltrate the SOG commandos, which prevented the quick-reaction force from inserting. But two days of concentrated air attacks against the NVA allowed the Hatchet Force to stay alive, and the commandos were eventually able to exfiltrate.

Twenty-three men from SOG and its supporting air units and about 50 of the indigenous fighters were wounded or killed, went missing, or were captured during the operation.

In addition, two CH-46 Sea Knight helicopters, one UH-1 gunship, one H-34 transport chopper, one F-4 Phantom jet, and one A-1E Skyraider were shot down.

During the fight, one seriously wounded American, Sgt. First Class Charles Wilklow, was captured by the North Vietnamese, who used him as bait for a rescue force for four days. Wilklow not only managed to survive his wounds but also escaped, getting picked up by a combat search and rescue chopper five days after the battle began.

Oscar-8 was a disaster for SOG. The Hatchet Force failed to achieve any of the mission's goals, and if it weren't for the sheer will and grit of the commandos and the aircrews, it would have been a lot worse.

Indeed, the operation highlights the dangers SOG operators faced on every mission. With the odds always against them, it's miraculous that their successes outweighed their failures.

Stavros Atlamazoglou is a defense journalist specializing in special operations, a Hellenic Army veteran (national service with the 575th Marine Battalion and Army HQ), and a Johns Hopkins University graduate.

Read the original article on Business Insider