Wednesday, April 24, 2019

Nguyễn Đình Tùng Đoàn Công Tác 75

 
Nguyễn Đình Tùng Đoàn Công Tác 75

From Lê Hoàng

Quý anh chi em ,
Chiến hữu Nguyễn Đình Tùng đã chính thức ra đi lúc 01:03 trưa ngày 24 tháng 4 năm 2019 
Chương Trình Tang Lễ:
Chủ Nhật 5/5/2019 - 11:00 am Nghi Thức Phủ Quốc Kỳ VNCH và Thăm Viếng.
Thứ Hai 5/6/2019  2:00pm Động Quan 2:30 Hạ Huyệt
Nhà Quàn: 
Oak Hill Funeral


GIA ĐÌNH XIN MIỄN PHÚNG ĐIẾU .

Kính báo
Lê Hoàng


CÁO PHÓ
Gia đình chúng tôi vô cùng tiếc thương báo tin cùng thân bằng quyến thuộc, bạn hữu xa gần
Em, Anh, Chồng, Cha, Cậu và Ông của chúng tôi là:
NGUYỄN ĐÌNH TÙNG
Sinh ngày 03 tháng 01 năm 1952 tại Phan Thiết, Việt nam,
Đã từ trần vào lúc 01:03 chiều ngày 24 tháng 04 năm 2019, tại San Jose, Kaiser Hospital
Hưởng thọ được 67 tuổi.
Tang lể sẽ được cử hành tại:
Oak Hill Funeral Home & Memorial Park.
300 Curtner Avenue San Jose, CA 95125
(408) 297-2447
* Chủ Nhật, Ngày 05 tháng 05 năm 2019
09:00-9:30 am Lể Nhập Quan
09:30-10:00 am Lể Phát Tang
10:00-11:00 am CẦU NGUYỆN
11:00-7:00 pm Lể Truy Điệu và Thân Hữu Thăm Viếng
*Thứ Hai, 06 tháng 05 năm 2019
09:00-10:00 am CẦU NGUYỆN
10:00-12:00 pm Thăm viếng lần cuối
12:00- 1:30 pm gia đình và thân hữu chia sẽ, Cảm tạ và chia tay
1:30 pm Lể Di Quan và cầu nguyện
2:30 pm Lể hạ huyệt
Gia Đình, vợ, con và các cháu :
Con Trai Gia đình Nguyễn Đình Long và vợ
Con Gái Gia đình Nguyễn Thị Kim Khánh Hodges, chồng, và các con
Con gái Family of Hanh Souza
Con trai Family of Dang Nguyen
Vợ: Nguyễn Thị Kim Ngọc
Chị Cả, Gia Đình Mary Nguyễn thị Đào, chồng, và các con
Em Trai, Gia đình Nguyễn Đình Phùng, vợ và các con
Em gái, Gia đình Nguyễn Thị Phương, chồng và con
Em Gái Nguyễn Thị Ánh Mai và con
Cháu, Gia đình Nguyễn Kim Ngân, chồng và các con
Cháu, Gia đình Nguyễn Đình Thi, vợ và các con
CÁO PHÓ NÀY THAY THIỆP TANG, 
XIN MIỄN PHÚNG ĐIẾU
Tang Gia đồng cảm tạ



to Yahoo!, dan, NQN, Hoa

 Kính đến quí Anh Chị trong Đại gia đình NKT bài viết về C/H Nguyễn Đình Tùng  - qua lời kể của Tùng (lúc Tùng còn sống) và gia đình (chị Đào) - coi như để tưởng nhớ NĐT. Hình Tùng bị mất khi copy (ở bài viết phía dưới). Cần thấy hình, xin mở attach. Cảm ơn. N.D.
Nguyễn Đình Tùng, chuyện của anh cần được kể.
Anh được sinh ra trong một gia đình Cách Mạng – Cách Mạng “lỡ lầm” – Có lẽ chính vì “đặc điểm” này mà tôi muốn viết về anh.
Thân phụ anh, thế hệ nhiệt thành năng nổ. Với lòng yêu nước chân tình, đã dấn thân vào Vệ Quốc Đoàn, phong trào kháng chiến Việt Minh. Hoài bảo là: Đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Công chưa thành, danh chưa toại thì ông lại… sớm hy sinh. Thân phụ bị giặc Pháp giết trước chiến thắng vang lừng Điện Biên – cũng là thời điểm “đuổi giặc” đi rồi, lại chia đôi đất nước.
Ông là một đại đội trưởng (Vệ Quốc Đoàn), hy sinh ngày 19/2/1954. Anh vừa lên 2 tuổi… Hoàn cảnh lúc bấy giờ, một mẹ, 4 con đã phải vất vả trăm điều, chắc chiu nuôi dưỡng đám con thơ, tạo dựng cuộc đời, cuộc sống… thời buổi loạn ly. Phải chấp nhận sống dưới chế độ miền Nam (quốc gia Việt Nam rồi Việt Nam Cộng Hòa kế tiếp).. CS Việt Minh biệt mù mất dạng, năm mẹ con hầu như trong cảnh bơ vơ. Rồi cũng nhờ cưu mang, đùm bọc từ hai Ông Bà nội ngoại, gia đình yên ổn, bốn chị em khôn lớn nên người, học hành… dưới chế độ VNCH.
Mang dòng máu từ cha, với tính khí kiên cường năng nổ, anh tỏ ra thông minh, đĩnh đạc… từ lúc còn thơ. Cách mạng không đoái hoài thương tưởng. Coi như hy sinh đền nợ nước là xong.
Lớn lên và tiếp tục học hành, được mấy chú (tiếp tay cha mẹ) nuôi dạy. Tuy nhiên, tính tự cường, tự lập, anh vào đời khá sớm. Thay vì tiếp tục vào đại học, anh bỏ dở học hành, và trốn lính? Cũng không vì “mối thù” (cho cha) mà tìm về “Cách mạng”, hoặc theo “giặc” để giả vờ rồi “trở mặt” lập chiến công. Anh không muốn dấn thân vào …lính. Con đường lựa chọn là… kinh doanh. Nhưng rồi, bất thành. Lại đành… vào lính.
Thay đổi tên (khai sanh từ đứa em) nên anh đành chấp nhận vào quân đội (QĐVNCH) với cấp bậc khiêm nhường: HSQ/quân trường Đồng Đế. Rồi ra trường và tình nguyện vào đơn vị nhãy dù BK/NKT (Nha Kỹ Thuật), phục vụ Đoàn 75/Sở Công Tác.
Quân đội cũng chỉ là tạm thời cho cuộc đời thử thách. Cũng đã phải “vào sinh ra tử” bao phen. Mấy năm quân đội (lẫn chiến trường) – 1973 – 1975 – cũng đã tạo thêm cho anh gan lì và bản lĩnh. Hai lần bị thương, và khá nặng là lần thứ hai, nằm bệnh vìện một thời gian, để rồi chờ Hội Đồng xét nghiệm y khoa. Có thể là… giải ngũ? Hầu như, anh không có duyên cho kiếp sống núi rừng?
Và rồi 30/4/1975: rã ngũ, tan thương… Là nỗi đau buồn, bất hạnh cho ai? Cho bao người? Nhưng, với anh lại là bước đầu thử thách mới. Và rồi, tiếp tục bước thành công.
Không trình diện, không khai báo, không khăn gói vào tù. Mà “thay dạng đổi hình” để giả trá và lẫn trốn: Người chú giao phó cho anh cai quản một xe đò (chạy đường dài Nam/Bắc - Bắc/Nam). Tạo cơ hội cho anh thực thi bản lĩnh đổi đời. Lợi dụng, mua chuộc, móc nối… làm mọi thứ. Đối với chế độ mới: dù quyền uy, ma mảnh, xảo trá, hung tàn… nhưng, những “tên Mán” bao năm từ rừng rú ra thành có nhiều lạ lẫm và bỡ ngỡ. Anh qua mặt và xỏ mủi dắt đi, để thực hiện bao kế hoạch của mình.
Chưa đầy một năm, Nguyễn đình Tùng trở nên nổi trội, đổi dáng, đổi đời, và … quyền thế. Đúng ra cũng dựa vào “cách mạng” -  đám cách mạng “30”.
Thế rồi, cũng bạo phát, bạo tàn. Nổi trội, có của, có tiền, thì cũng có nhiều ganh tỵ. Một tên “lính ngụy” trốn cải tạo, lại còn nổi nang, đõm dáng gió mùa? Anh bị bắt, bị tù: bị nhốt vào trại giam Ba Ngòi (Cam Ranh). Tuy nhiên, nhờ có tiền và thông minh lanh lợi, anh có thời gian thư thả “ra/vào” để rồi tìm mưu trốn thoát. Và rồi, vượt thoát: bỏ của chạy lấy người.
Mai danh ẩn tích, lang bạt trốn lánh một thời. Chui lũi vào khu nông nghiệp (làm rẫy), cơ ngơi của một người chú để ẩn thân. Cái thuở sa cơ anh hùng mạt vận?
Thế rồi, thời cơ ẩn nhẫn, thấy tội (tội nghiệp), đáng thương, lại quen một vài “ả” “con gái nhà sang, lang bang nhà lính” họp tác, giúp đở “một con ngựa sa cơ” đóng cho móng vuốt để tiếp nối công cuộc làm ăn: móc nối, mua bán, chạy hàng tuyến đường: Xuân lộc – Long Khánh – Sài Gòn – Phan Thiết. Rồi từ đó, có thêm móng vuốt, vươn lên hợp tác: “làm bãi vượt biên”. Giai đoạn này, Nguyễn đình Tùng gặp phải và trải qua bao thứ: hiểm nguy, nguy hiểm, nhu nhược lẫn gan lỳ, lương thiện lẫn ma mảnh, dữ dằn… Hầu như trở thành “tinh” để đối phó với loài “quỉ dữ”. Hai lần tổ chức vượt biên: một thành công, một thất bại. Sau cùng, lần thứ 3 (chuyến chót), phối hợp, móc nối: cướp tàu (tàu quốc doanh, tàu đánh cá) và thành công (lần chót) vượt biên. Một lần “liều mạng” - nhất chín, nhì bù – Cũng may, không biết nhờ (cái gì?) phò trợ. Chuyến vượt biên (cướp tàu) lợi dụng (tụi nó) lo kỷ niệm mừng quốc khánh 2/9/1978, lơ là mà trót lọt thành công, đưa 84 đồng bào, đồng hương an toàn ra biển cả, và có được tàu Indonesia  cứu giúp  đưa đến bờ bến tự do.
Thói thường, trong cơn nguy mới rõ tài đảm lược. Trong gian nan mới tõ mặt anh hùng. Nguyễn đình Tùng, thời gian nguy nan, trốn lánh mọi đường, lại là thời gian tỏ rõ ý chí (không đầu hàng, không hèn yếu, khuất phục). Và biết đâu “nhờ Trời” phận số chưa tận nên vượt thoát, và thành công. Tình huống và chi tiết thì quá nhiều. Phạm vi một bài viết ngắn không thể dàn trải đủ đầy. Vả lại, bây giờ Tùng đã mất, người viết chỉ một lần nghe kể (từ Tùng) không thể nào nhớ hết. Chỉ xin viết kể đôi phần đại lượt. Cũng chỉ với mục đích tưởng về và nhớ tiếc một đồng đội, một chiến hữu, cũng là một người em quí mến, thân tình.
Như mọi người có dịp gần gủi Tùng thì biết: Tùng rất trầm lặng, ít nói, hiếm khi nói kể về mình. May mắn lắm, hứng thú lắm, mới nghe Tùng bộc bạch. Qua đôi điều vừa kể (nêu trên) cũng chỉ là “mạn phép”. Xin Tùng, đang nơi cõi xa nào đó, một sự vui thứ cảm thông. Tùng nhé.
Theo lời bà chị - chị Nguyễn thị Đào - những năm tháng trốn trại tù, ra ngoài, Tùng vô vàn vất vả. Tụi công an liên tục rình mò, theo dõi. Đã hai lần bị bắt, và cũng hai lần vượt thoát liền đó: một lần CA bao vây (tại nhà ở Phan Thiết), không còn cách thoát thân. Vậy mà, vừa thoáng CA chưa kịp còng tay, thì Tùng lách một cái phóng trèo lên tường rào trên 3m, vọt ra ngoài và chạy thoát. Lần 2, cũng trong nhà, có thêm đứa bạn, CA kềm phía trước, phía sau, cả chị Đào cũng bị bắt đi theo. Ra đường, đi một đoạn, thoáng một cái (lúc tụi CA họp nhau hội ý, thiếu đề phòng). Nó vừa nháy mắt (ra dấu hiệu), hai đứa phóng nhào vượt thoát. CA rượt theo không kịp, bắt chị ra đồn rồi thả chị.
Bao tháng ngày lo vượt biên, móc nối lập bãi, mua dầu, chôn dầu, thể hiện bản lảnh chẳng thua ai, nhất là qua mặt bọn CA săn đuổi. Bản lãnh cũng có , mà may mắn cũng có. Hầu như luôn có quới nhân, Phật Trời độ trì phù hộ để có được cơ hội vượt thoát. Thành tích cũng đáng tự hào.
Nhưng rồi, lại vắng số. Trên đất Mỹ là vùng “đất hứa” no ấm, yên bình, thế mà lại không an hưởng, lại ra đi? Tùng ra đi bất ngờ không hẹn, không một tiếng tạ từ, một lời vĩnh biệt.
Anh ra đi tức tưởi, vội vàng, trưa ngày 24/4/2019. Để lại bao nỗi đau buồn thương tiếc.
Hôm nay, xin được viết lên đây đôi dòng này để lưu kỷ niệm, Tùng nhé.
Kính nguyện cầu (hương linh) Tùng ra đi thanh thản, yên bình, về nơi cõi Vĩnh Hằng.
2/5/2019 – Ng. Dẩn.
thHaveaniceDay.gif image by dannguyen_05
N.Dan



Tùng.
Là con người thì có sinh có tử, nhưng cho đến giờ này bọn tao cũng không thể chấp nhận cái “tử” của mày cho dù sự việc đã hiển nhiên, sờ sờ ra  đó.
Mới hôm rồi mày còn chén chú chén anh với tụi tao, cái sô pha vợ chồng Hoàng mua để dành cho mày uống say rồi ngủ nhưng mày cũng chưa có dịp ngã lưng để hưởng sự êm ái ấm nồng của tình bạn.
Mới hôm rồi vợ chồng Hoàng, Thắng và tao, tiếp theo là Ngà, Liêm to mồm, và trước nữa là Liên râu và các anh khác còn nhìn thấy mày nhắm và mở mắt để trả lời và mày cũng nhận biết tiếng kêu khóc thảng thốt của Hoàng cùng Ái, những giọt nước mắt đau xót của bọn tao khiến nước mắt mày cũng chảy theo.
Nhưng chỉ cách một đêm thôi thì nghe tin mày đi biền biệt.  
Sao mà nhanh thế hả Tùng?
Có cái gì đó không hay, có cái gì đó bất bình thường không, tại sao?? 
Chỉ một cái stroke mà đi luôn trong vòng hai ba ngày ư???
Tin hay không tin thì mày cũng đã không còn nữa. Cho dù bọn tao muốn cấu véo tâm hồn thật đau để tránh niềm đau mất bạn thì cũng không còn kịp nữa, mày đã đi rồi….
Bây giờ tao cũng không còn ai để kêu mua bê thui đem lên nhà Hoàng nhậu, mày là đứa rất chìu bạn và quí bạn, Hoàng cũng không còn đối tượng để tán chuyện stock lên hay xuống, chai rượu 46  độ Hoàng mua từ Costco về không còn dịp thắng mày, và đau đớn hơn là cả một nhóm BK/NKT bắc Cali không còn ai được nghe mày “ừ hử”..
Mày là một phần máu thịt của bọn tao, làm sao bây giờ.
Với lẽ thường của người nằm xuống thì ai ai cũng nói lời phân ưu với gia đình người quá cố, còn bọn tao phải làm gì đây???
Bọn tao đang đau cái đau mất người thân, từ hôm mày đi đến hôm nay nước mắt tao vẩn chảy suốt con đường tao đi làm, quả thật, tao không cam tâm đối diện một sự thật quá phủ phàng như thế.
Hôm nay bọn tao tổ chức buổi cầu siêu cho mày theo tôn giáo gia đình mày, mong mày mau chóng tìm được chốn bình an, tao tin rằng cánh dù của mày chưa biết đáp xuống đâu cả, vì Thiên Đàng không có rượu Cordon, không có nàng Mến thỏ thẻ, Địa ngục thì không còn chổ đặt chân, thôi thì trước khi tìm được nơi chốn bình an mày hãy tới đây cùng bọn tao, nghe Hoàng nói chuyện stock một mình, tao nhìn dĩa bê thui mà nhớ bạn, nghe Ngà gọi anh Tùng ừ hử, và thấy Liêm to mồm đang thương cảm cho một anh chàng Tùng khi sống cứ như là cái bóng ven đường của vợ và con hắn.
Hãy về đây uống với bọn tao hôm nay và nhiều hôm sau, nhiều nhiều hôm sau nữa, nữa ly rượu ấm tình đồng đội, tình anh em, mày sẽ không cô đơn, sẽ không bao giờ mất trong tình càm anh em đồng đội của mày đâu Tùng ơi…

uống đi mày uống nửa ly thôi
chia với tao những đắng cay này
mấy mươi năm – cái đời cơm áo
tao sống còn, nửa tỉnh nửa say

TONY NGUYEN Oakdrisch@yahoo.com

 


Kính đến quí Anh Chị trong Đại gia đình NKT bài viết về C/H Nguyễn Đình Tùng  - qua lời kể của Tùng (lúc Tùng còn sống) và gia đình (chị Đào) - coi như để tưởng nhớ NĐT. Hình Tùng bị mất khi copy (ở bài viết phía dưới). Cần thấy hình, xin mở attach. Cảm ơn. N.D.

Nguyễn Đình Tùng, chuyện của anh cần được kể.
Anh được sinh ra trong một gia đình Cách Mạng – Cách Mạng “lỡ lầm” – Có lẽ chính vì “đặc điểm” này mà tôi muốn viết về anh.
Thân phụ anh, thế hệ nhiệt thành năng nổ. Với lòng yêu nước chân tình, đã dấn thân vào Vệ Quốc Đoàn, phong trào kháng chiến Việt Minh. Hoài bảo là: Đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc. Công chưa thành, danh chưa toại thì ông lại… sớm hy sinh. Thân phụ bị giặc Pháp giết trước chiến thắng vang lừng Điện Biên – cũng là thời điểm “đuổi giặc” đi rồi, lại chia đôi đất nước.
Ông là một đại đội trưởng (Vệ Quốc Đoàn), hy sinh ngày 19/2/1954. Anh vừa lên 2 tuổi… Hoàn cảnh lúc bấy giờ, một mẹ, 4 con đã phải vất vả trăm điều, chắc chiu nuôi dưỡng đám con thơ, tạo dựng cuộc đời, cuộc sống… thời buổi loạn ly. Phải chấp nhận sống dưới chế độ miền Nam (quốc gia Việt Nam rồi Việt Nam Cộng Hòa kế tiếp).. CS Việt Minh biệt mù mất dạng, năm mẹ con hầu như trong cảnh bơ vơ. Rồi cũng nhờ cưu mang, đùm bọc từ hai Ông Bà nội ngoại, gia đình yên ổn, bốn chị em khôn lớn nên người, học hành… dưới chế độ VNCH.
Mang dòng máu từ cha, với tính khí kiên cường năng nổ, anh tỏ ra thông minh, đĩnh đạc… từ lúc còn thơ. Cách mạng không đoái hoài thương tưởng. Coi như hy sinh đền nợ nước là xong.
Lớn lên và tiếp tục học hành, được mấy chú (tiếp tay cha mẹ) nuôi dạy. Tuy nhiên, tính tự cường, tự lập, anh vào đời khá sớm. Thay vì tiếp tục vào đại học, anh bỏ dở học hành, và trốn lính? Cũng không vì “mối thù” (cho cha) mà tìm về “Cách mạng”, hoặc theo “giặc” để giả vờ rồi “trở mặt” lập chiến công. Anh không muốn dấn thân vào …lính. Con đường lựa chọn là… kinh doanh. Nhưng rồi, bất thành. Lại đành… vào lính.
Thay đổi tên (khai sanh từ đứa em) nên anh đành chấp nhận vào quân đội (QĐVNCH) với cấp bậc khiêm nhường: HSQ/quân trường Đồng Đế. Rồi ra trường và tình nguyện vào đơn vị nhãy dù BK/NKT (Nha Kỹ Thuật), phục vụ Đoàn 75/Sở Công Tác.
Quân đội cũng chỉ là tạm thời cho cuộc đời thử thách. Cũng đã phải “vào sinh ra tử” bao phen. Mấy năm quân đội (lẫn chiến trường) – 1973 – 1975 – cũng đã tạo thêm cho anh gan lì và bản lĩnh. Hai lần bị thương, và khá nặng là lần thứ hai, nằm bệnh vìện một thời gian, để rồi chờ Hội Đồng xét nghiệm y khoa. Có thể là… giải ngũ? Hầu như, anh không có duyên cho kiếp sống núi rừng?
Và rồi 30/4/1975: rã ngũ, tan thương… Là nỗi đau buồn, bất hạnh cho ai? Cho bao người? Nhưng, với anh lại là bước đầu thử thách mới. Và rồi, tiếp tục bước thành công.
Không trình diện, không khai báo, không khăn gói vào tù. Mà “thay dạng đổi hình” để giả trá và lẫn trốn: Người chú giao phó cho anh cai quản một xe đò (chạy đường dài Nam/Bắc - Bắc/Nam). Tạo cơ hội cho anh thực thi bản lĩnh đổi đời. Lợi dụng, mua chuộc, móc nối… làm mọi thứ. Đối với chế độ mới: dù quyền uy, ma mảnh, xảo trá, hung tàn… nhưng, những “tên Mán” bao năm từ rừng rú ra thành có nhiều lạ lẫm và bỡ ngỡ. Anh qua mặt và xỏ mủi dắt đi, để thực hiện bao kế hoạch của mình.
Chưa đầy một năm, Nguyễn đình Tùng trở nên nổi trội, đổi dáng, đổi đời, và … quyền thế. Đúng ra cũng dựa vào “cách mạng” -  đám cách mạng “30”.
Thế rồi, cũng bạo phát, bạo tàn. Nổi trội, có của, có tiền, thì cũng có nhiều ganh tỵ. Một tên “lính ngụy” trốn cải tạo, lại còn nổi nang, đõm dáng gió mùa? Anh bị bắt, bị tù: bị nhốt vào trại giam Ba Ngòi (Cam Ranh). Tuy nhiên, nhờ có tiền và thông minh lanh lợi, anh có thời gian thư thả “ra/vào” để rồi tìm mưu trốn thoát. Và rồi, vượt thoát: bỏ của chạy lấy người.
Mai danh ẩn tích, lang bạt trốn lánh một thời. Chui lũi vào khu nông nghiệp (làm rẫy), cơ ngơi của một người chú để ẩn thân. Cái thuở sa cơ anh hùng mạt vận?
Thế rồi, thời cơ ẩn nhẫn, thấy tội (tội nghiệp), đáng thương, lại quen một vài “ả” “con gái nhà sang, lang bang nhà lính” họp tác, giúp đở “một con ngựa sa cơ” đóng cho móng vuốt để tiếp nối công cuộc làm ăn: móc nối, mua bán, chạy hàng tuyến đường: Xuân lộc – Long Khánh – Sài Gòn – Phan Thiết. Rồi từ đó, có thêm móng vuốt, vươn lên hợp tác: “làm bãi vượt biên”. Giai đoạn này, Nguyễn đình Tùng gặp phải và trải qua bao thứ: hiểm nguy, nguy hiểm, nhu nhược lẫn gan lỳ, lương thiện lẫn ma mảnh, dữ dằn… Hầu như trở thành “tinh” để đối phó với loài “quỉ dữ”. Hai lần tổ chức vượt biên: một thành công, một thất bại. Sau cùng, lần thứ 3 (chuyến chót), phối hợp, móc nối: cướp tàu (tàu quốc doanh, tàu đánh cá) và thành công (lần chót) vượt biên. Một lần “liều mạng” - nhất chín, nhì bù – Cũng may, không biết nhờ (cái gì?) phò trợ. Chuyến vượt biên (cướp tàu) lợi dụng (tụi nó) lo kỷ niệm mừng quốc khánh 2/9/1978, lơ là mà trót lọt thành công, đưa 84 đồng bào, đồng hương an toàn ra biển cả, và có được tàu Indonesia  cứu giúp  đưa đến bờ bến tự do.
Thói thường, trong cơn nguy mới rõ tài đảm lược. Trong gian nan mới tõ mặt anh hùng. Nguyễn đình Tùng, thời gian nguy nan, trốn lánh mọi đường, lại là thời gian tỏ rõ ý chí (không đầu hàng, không hèn yếu, khuất phục). Và biết đâu “nhờ Trời” phận số chưa tận nên vượt thoát, và thành công. Tình huống và chi tiết thì quá nhiều. Phạm vi một bài viết ngắn không thể dàn trải đủ đầy. Vả lại, bây giờ Tùng đã mất, người viết chỉ một lần nghe kể (từ Tùng) không thể nào nhớ hết. Chỉ xin viết kể đôi phần đại lượt. Cũng chỉ với mục đích tưởng về và nhớ tiếc một đồng đội, một chiến hữu, cũng là một người em quí mến, thân tình.
Như mọi người có dịp gần gủi Tùng thì biết: Tùng rất trầm lặng, ít nói, hiếm khi nói kể về mình. May mắn lắm, hứng thú lắm, mới nghe Tùng bộc bạch. Qua đôi điều vừa kể (nêu trên) cũng chỉ là “mạn phép”. Xin Tùng, đang nơi cõi xa nào đó, một sự vui thứ cảm thông. Tùng nhé.
Theo lời bà chị - chị Nguyễn thị Đào - những năm tháng trốn trại tù, ra ngoài, Tùng vô vàn vất vả. Tụi công an liên tục rình mò, theo dõi. Đã hai lần bị bắt, và cũng hai lần vượt thoát liền đó: một lần CA bao vây (tại nhà ở Phan Thiết), không còn cách thoát thân. Vậy mà, vừa thoáng CA chưa kịp còng tay, thì Tùng lách một cái phóng trèo lên tường rào trên 3m, vọt ra ngoài và chạy thoát. Lần 2, cũng trong nhà, có thêm đứa bạn, CA kềm phía trước, phía sau, cả chị Đào cũng bị bắt đi theo. Ra đường, đi một đoạn, thoáng một cái (lúc tụi CA họp nhau hội ý, thiếu đề phòng). Nó vừa nháy mắt (ra dấu hiệu), hai đứa phóng nhào vượt thoát. CA rượt theo không kịp, bắt chị ra đồn rồi thả chị.
Bao tháng ngày lo vượt biên, móc nối lập bãi, mua dầu, chôn dầu, thể hiện bản lảnh chẳng thua ai, nhất là qua mặt bọn CA săn đuổi. Bản lãnh cũng có , mà may mắn cũng có. Hầu như luôn có quới nhân, Phật Trời độ trì phù hộ để có được cơ hội vượt thoát. Thành tích cũng đáng tự hào.
Nhưng rồi, lại vắng số. Trên đất Mỹ là vùng “đất hứa” no ấm, yên bình, thế mà lại không an hưởng, lại ra đi? Tùng ra đi bất ngờ không hẹn, không một tiếng tạ từ, một lời vĩnh biệt.
Anh ra đi tức tưởi, vội vàng, trưa ngày 24/4/2019. Để lại bao nỗi đau buồn thương tiếc.
Hôm nay, xin được viết lên đây đôi dòng này để lưu kỷ niệm, Tùng nhé.
Kính nguyện cầu (hương linh) Tùng ra đi thanh thản, yên bình, về nơi cõi Vĩnh Hằng.
2/5/2019 – Ng. Dẩn.


In Memory America's Fallen - SFC Jerry M. Shriver "Mad Dog"

Today we pause to remember one of SOGs legends, SFC Jerry M Shriver who went MIA fifty years ago on April 24, 1969. Jerry is credited with taking part in an extraordinary number of recon missions with SOG. Those who knew Jerry find it hard to picture him being able to integrate back into normal society if he had survived Vietnam. As his longtime friend Ron Dahle has said about Jerry, "Jerry had to die in Nam, there was no place in a civilized world for him. He was great sober (seldom) unfortunately he was a total alcoholic and totally crazy when drunk. Don't misinterpret what I am saying, I loved Jerry to death, but what was...was."
Born Jerry Michael Tate, he was a military brat. His biological father, Henry A Tate, Jr., was in the Air Corps and Air Force. His parents married in 1941 and his father served during WW II in Italy. After the war, the family spends time in Germany and Bermuda. By the time he was 12, Jerry had three younger siblings and his parents had split up. Soon afterwards his mom "Doll" marries another career Air Force man, Dale L Shriver. Jerry and his siblings all take the Shriver surname. Three more siblings were added to his family.
In Dec 1958 - 17 year old Jerry Shriver drops out of South Fork High School (Miranda, CA) to join the Army. He is listed as living in Weott, Humboldt County, California. His mom and step-father live in Sacramento.
After basic training at Fort Ord, Jerry receives infantry/11B training. He probably finished all of his initial training in early 1959. It’s unknown what he does for the next few years, but sometime prior to 1961 he attends jump school and then is assigned to Wildflecken, Germany as a member of Co A, 75th Infantry, serving on a Long Range Reconnaissance Patrol (LRRP) team.
Jerry’s years as a LRRP with 75th are told in a 3 page article in the Fall 2008 75th Ranger Regiment Association's newsletter. 'Tales of Digger' (Digger was Jerry's nickname) show that his eccentric and sometimes risk taking nature was well established before he stepped foot in Vietnam. On the flip side of the coin his passion for training and conditioning himself into a fierce fighting machine and his talent to put his skills to good use was recognized.
In 1965 Jerry was at Fort Bragg attending Special Forces training. His off base housemates were Ron Dahle & Roy Link. His rather bizarre and dangerous shenanigans continued at Fort Bragg, but he managed to arrive in Vietnam in 1966 wearing Staff Sergeant stripes and was soon promoted to Sergeant First Class.
On 8 October 1966 Jerry earns the first of his seven Bronze Stars w/V device and 19 days later he earns his first Silver Star while serving as an assistant team leader on a recon team.
Below is a list of the personal decorations he received:
For action on 08 Oct 1966 Bronze Star w/v
For action on 27 Oct 1966 Silver Star
For action on 02 May 1967 Bronze Star w/v
For action on 05 May 1967 Soldier's Medal
For action on 10 Aug 1967 ARCOM w/V
For action on 23 Sep 1967 Bronze Star w/v
For action on 23 Oct 1967 Bronze Star w/v
For action on 13 May 1968 Bronze Star w/v
For action on 04 Nov 1968 Bronze Star w/v
For wounds on 12 Mar 1969 Purple Heart
For action on 24 Apr 1969 Silver Star (awarded posthumously 2 Oct 1974)

By 1968 the 5th Special Forces Group executive officer, Lieutenant Colonel Charlie Norton, had been watching SOG recon casualties skyrocket and grew concerned about men like Mad Dog whose lives had become a continuous flirtation with death. Norton went to the 5th Group commander and urged, "Don't approve the goddamn extensions these guys are asking for. You approve it again, your chances of killing that guy are very, very good." But the group commander explained SOG needed experienced men for its high priority missions. "Bullshit," Norton snapped, "you're signing that guy's death warrant." Eventually 5th Group turned down a few extensions but only a very few; the most experienced recon men never had extensions denied. Never.
Unless you were one of Mad Dog's close friends, the image was perfect prowess -- but the truth was, Shriver confided to fellow SOG Green Beret Sammy Hernadez, he feared death and didn't think he'd live much longer. He'd beat bad odds too many times, and could feel a terrible payback looming.

It was said that by his third tour of duty Shriver had become troubled and anti-social. He had even started to drink heavily and was said to be having trouble sleeping. He slept with his M3A1 (Grease Gun) Suppressed Sub-machine Gun under his pillow. But most people who served with him acknowledged that he was also a brave, dedicated, and committed soldier, who would do anything to help his team.
"He wanted to quit," Medal of Honor winner Fred Zabitosky could see. "He really wanted to quit, Jerry did. I said, 'Why don't you just tell them I want off, I don't want to run anymore?' He said he would but he never did; just kept running."
"Mad Dog was wanting to get out of recon and didn't know how," said recon team leader Sonny Franks, though the half-measure came when Shriver left recon to join his teammate O’Rourke’s Reaction Company.

LTC Earl Trabue stated “I had taken Shriver out of Recon and put him in the Reaction Company commanded by O'Rourke based on advice from my Sergeant Major who told me Shriver was burnt out. I also refused Shriver's request for another extension. I personally told him that he needed a rest. I had a rule that at 10 days before DROS no one went on a mission. Shriver was two days short of the 10 days when the mission took take place.”
When Jerry boarded the helicopter at Quan Loi (a small SOG compound) on the morning of April 24, 1969 it was thought the COSVN (North Vietnamese Army Headquarters) raid would make a fitting final operation; Shriver could face his fear head-on, charge right into COSVN’s mysterious mouth and afterward at last call it quits.
The story of Jerry’s last mission by LTC Earl Trabue and others:
LTC Trabue: “I was Flying C&C and was there from the git-go. We had to fly around the area for about 30 minutes to find three dry bomb holes (indicating that they were fresh). We knew at the start that due to aircraft availability it would be a platoon sized mission. However, the reason that there were so many officers on it was that CPT Bill O'Rourke wanted an officer in each flight team. As I had assigned the mission to O'Rourke's company, it was his responsibility to select the men who would go in on the ground. He decided to go in and command the ground operations. His plan was to go in on the last ship to land in order that he might see how the teams were dispersing on the ground. There was an engine failure in his ship at take off. We all knew that the mission was stupid from the time we got the order. I personally contacted Col Johnson at Ops 35 (My immediate Supervisor at SOG) and told him that with the manpower we would have the Mission was not appropriate. We were supposed to capture a prisoner and conduct a bomb assessment. I was told that the B-52s bombs would stun all of the enemy so bad it would be a piece of cake. So much for rear echelon knowledge of the real world in the field. “

Shriver's platoon was air assaulted into Cambodia by four helicopters. Upon departing the helicopter, the team had begun moving toward its initial target point when it came under heavy volumes of enemy fire from several machine gun bunkers and entrenched enemy positions estimated to be at least a company-sized element.
Capt. Cahill and Sgt. Ernest C. Jamison, the platoon medical aidman, took cover in a bomb crater. Cahill continued radio contact with Shriver for four hours until his transmission was broken and Shriver was not heard from again.
LTC Trabue: “Shriver called from his hole over to Cahill and told him he planned to try to get into the trees and get behind the VC. Cahill, who was now the ground commander, told him not to go as the fire was too hot. Shiver went anyway with five ‘Yards. All were killed. Cahill observed Shiver getting hit and going down just short of the tree line. “
It was known that Shriver had been wounded 3 or 4 times. An enemy soldier was later seen picking up a weapon which appeared to be the same type carried by Shriver.
Jamison left the crater to retrieve one of the wounded Montagnards who had fallen in the charge. The medic reached the soldier, but was almost torn apart by concentrated machine gun fire. At that moment Cahill was wounded in the right eye, which resulted in his total blindness for the next 30 minutes. The platoon radioman, Y-Sum Nie, desperately radioed for immediate extraction.
Maj. Benjamin T. Kapp, Jr. was in the command helicopter and could see the platoon pinned down across the broken ground and rims of bomb craters. North Vietnamese machine guns were firing into the bodies in front of their positions and covering the open ground with grazing fire. The assistant platoon leader, 1Lt. Gregory M. Harrigan, reported within minutes that half the platoon was killed or wounded. Harrigan himself was killed 45 minutes later.

LTC Trabue: “The first time the C&C ship went back to the base for fuel I gathered up a recon team and put them on the ground to try and infiltrate around to the rear of the enemy. The team claimed that they could not get out of the hole I had put them in as they were under fire. During the action, when it became apparent that the choppers did not have enough fire power to suppress the VC, I got a message relayed to Ops 35 telling them that if I did not get close air support we would lose every one on the ground. I got the support in the form of several sorties but their bombs were having no effect. After the war I found out from one of the gunners from the 195th, which was our Helicopter support, that the bunker complex we were fighting was made of Concrete. He saw them when they went in low to strafe the area. Finally I called for napalm and that stopped the fire from the VC long enough for us to evacuate the survivors and some of the dead. Jamison was left on the ground (he was dead) because the last pickup ship was receiving fire and had to get out of there.”
After seven hours of contact, three helicopters dashed in and pulled out 15 wounded troops. As the aircraft lifted off, several crewmen saw movement in a bomb crater. A fourth helicopter set down, and Lt. Daniel Hall twice raced over to the bomb crater. On the first trip he recovered the badly wounded radio operator, and on the second trip he dragged Harrigan's body back to the helicopter. The aircraft was being buffeted by shellfire and took off immediately afterwards. No further MACV-SOG insertions were made into the NVA stronghold.
A total of 24 men had been inserted; 17 were recovered, and of those 17, ten were wounded and one was dead (1LT Gregory M. Harrigan). Two Americans and five Montagnards were not recovered; one of the seven, medic SGT Ernest C. Jamison, was known dead, while the other six were listed as Missing in Action.
On the 12th of June 1970, a team from the US Grave Registration Unit arrived at the battle-site to search for seven soldiers who had gone missing during the battle, including Shriver. Although they did recover the bodies of SGT Jamison and one of the Montagnards, no trace of Jerry Shriver or his equipment was ever found.
According to the Task Force Omega site, a Radio Hanoi broadcast indicated that Shriver had been killed in the fighting. However, he was carried as MIA until 10 June 1974, when the Secretary of the Army approved a Presumptive Finding of Death. During this time he was promoted from E-7 to E-8. As of April 2019 his remains have not been repatriated.
There is a memorial marker for Master Sergeant Jerry M. Shriver in the Fort Lawton Federal Cemetery in Seattle, Washington (Plot 4-235, placed 08/22/1974).

He is on "The Memorial Wall " in Washington, D.C. P-26W/L41
He is also featured in January 1997 "Soldier Of Fortune"
He is in the following:
"SOG" by John L Plaster
"Code Name: Copperhead" by Sergeant Major Joe R. Garner
"The Last Medal of Honor" by Pete Billac
………………………………..
Seattle Daily Times, WA, Friday, August 23, 1974, page E11, col. 6

Sergeant honored posthumously
Master Sgt. Jerry Michael Shriver was honored posthumously yesterday at Fort Lawton, the first missing-in-action person from this area to be so honored.
Shriver was pronounced dead by the Army after being missing in Laos five years.

The sergeant's parents, Mr. and Mrs. Dale Shriver of Bellevue, attended the ceremony along with the sergeant's brothers and sisters, Colleen, 18, Bonnie, 17, Patrick, 20, Roger, 27 and John, 23.
Shriver's six posthumous awards include the Silver Star, the nation's third-highest military honor.
Lt. Col. Douglas Horne, special assistant to the chief of staff at Ft. Lewis, presented Mrs. Shriver with an American flag, a Special Forces green beret like Shriver once had worn and a plaque with the six medals attached.
A 21-gun salute honored the sergeant. Members of Company B, 75th Rangers, 9th Infantry Division, Fort Lewis, served as the honor guard.

Thursday, April 18, 2019

Trung Sĩ Nhất Thái Phi Hùng DCT72/NKT và Ó Đen Lý Tống

 Nghĩa Trang Suối Tiên và 8 lô đất nơi An Táng Ó Đen Lý Tống

 
 Trung Sĩ Nhất Thái Phi Hùng (ngồi giữa)

Trung Sĩ Nhất Thái Phi Hùng (Gia Lai) 2018



Ngôi Mộ Trung Sĩ Nhất Thái Phi Hùng Đoàn 72 Sở Công Tác, Nha Kỹ Thuật, Tháng 4 đen 2019, hình trên bia đá được trích ra từ tấm hình
Toán 723 nhận bằng tưởng lục sau công tác hành quân thực tập tại Tam Biên năm 1971 
(hình do Thiếu Úy Lê Văn Hậu Trưởng Toán 723 cung cấp) 
 


Friday, April 12, 2019

Chúng tôi xin phân ưu cùng Ông Bà Trần Thanh Điền và tang quyến. Nguyện xin Thiên Chúa đón nhận linh hồn của Gioan Baotixita Trần Điền Long vào chốn an nghỉ ngàn thu.

Nhận được tin Anh Gioan Baotixita Trần Điền Long, Thứ Nam của HQ Đại tá Trần Thanh Điền đã về nhà Cha vào ngày 2 tháng 4 năm 2019 tại San Jose, California.
                           Hưởng Dương 47 tuổi.
Chúng tôi xin phân ưu cùng Ông Bà Trần Thanh Điền và tang quyến. Nguyện xin Thiên Chúa đón nhận linh hồn của Gioan Baotixita Trần Điền Long vào chốn an nghỉ ngàn thu.
Các gia đình: Trần Văn Chơn, Hồ Văn Kỳ Thoại, Bùi Cửu Viên, Phạm Mạnh Khuê, Bồ Đại Kỳ, Nguyễn Bá Thảo, Nguyễn Thanh Liêm, Trần Văn Nam, Chu Bá Yến, Phạm Đình San, Hoàng Đình Báu, Phạm Hòa, Dương Ngọc Sum, Nguyễn Văn Sâm, Quách Đại, Phan Anh Dũng, Hoàng Vinh, Nguyễn Minh Thiều, Phạm Gia Cổn, Phạm Quốc Bảo, Cát Biển Nguyễn Văn Sáng, Phạm Kim, Trường Sa Nguyễn Thìn, Hoàng Sa Trần Văn Thuần, Võ Tá Hân, Trần Quốc Bảo, Khiếu Long, Vũ Đức Âu Vĩnh Hiền, Quyên Di, Nguyễn Quang, Trần Huy Bích, Đào Đức Nhuận, Phạm Đình Long, Cao Mỵ Nhân, Trần Mạnh Chi, Phạm Hồng Thái, Lưu Anh Tuấn, Dương Viết Điền, Võ Minh Phượng, Nguyễn Ái Liên, Ngô Thiện Đức, Thái Hoa Chi, Khương Hữu Lộc, Phan Tấn Đạt và Trần Việt Hải.
Đồng Thành Kính Phân Ưu.

Truyện Người Lính Nhỏ mà Chính Khí lớn: VŨ TIẾN QUANG - Trần Đại Sĩ

Trung Sĩ VŨ TIẾN QUANG Cái Bóng Của  HOÀI VĂN VƯƠNG TRẦN QUỐC TOẢN 
(Trích trong bộ Lịch Sử Thiếu Sinh Quân Việt Nam)
Vũ Tiến Quang sinh ngày 10 tháng 9 năm 1956 tại Kiên Hưng, tỉnh Chương Thiện. Thân phụ là hạ sĩ địa phương quân Vũ Tiến Đức. Ngày 20 tháng 3 năm 1961, trong một cuộc hành quân an ninh của quận, Hạ Sĩ Đức bị trúng đạn tử thương khi tuổi mới 25. Ông để lại bà vợ trẻ với hai con. Con trai lớn, Vũ Tiến Quang 5 tuổi. Con gái tên Vũ thị Quỳnh Chi mới tròn một năm. Vì có học, lại là quả phụ tử sĩ, bà Đức được thu dụng làm việc tại Chương Thiện, với nhiệm vụ khiêm tốn là thư ký tòa hành chánh. Nhờ đồng lương thư ký, thêm vào tiền tử tuất cô nhi, quả phụ, nên đời sống của bà với hai con không đến nỗi thiếu thốn.
Quang học tại trường tiểu học trong tỉnh. Tuy rất thông minh, nhưng Quang chỉ thích đá banh, thể thao hơn là học. Thành ra Quang là một học sinh trung bình trong lớp. Cuối năm 1967, Quang đỗ tiểu học. Nhân đọc báo Chiến Sĩ Cộng Hoà có đăng bài: “Ngôi sao sa trường: Thượng-sĩ-sữa Trần Minh, Thiên Thần U Minh Hạ”, bài báo thuật lại: Minh xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Sau khi ra trường, Minh về phục vụ tại tiểu đoàn Ngạc Thần (tức tiểu đoàn 2 trung đoàn 31, sư đoàn 21 Bộ Binh) mà tiểu đoàn đang đồn trú tại Chương Thiện. Quang nảy ra ý đi tìm người hùng bằng xương bằng thịt. Chú bé lóc cóc 12 tuổi, được Trần Minh ôm hôn, dẫn đi ăn phở, bánh cuốn, rồi thuật cho nghe về cuộc sống vui vẻ tại trường Thiếu Sinh Quân. Quang suýt xoa, ước mơ được vào học trường này. Qua cuộc giao tiếp ban đầu, Minh là một mẫu người anh hùng, trong ước mơ của Quang. Quang nghĩ: “Mình phải như anh Minh”.
Chiều hôm đó Quang thuật cho mẹ nghe cuộc gặp gỡ Trần Minh, rồi xin mẹ nộp đơn cho mình nhập học trường Thiếu Sinh Quân. Bà mẹ Quang không mấy vui vẻ, vì Quang là con một, mà nhập học Thiếu Sinh Quân, rồi sau này trở thành anh hùng như Trần Minh thì…nguy lắm. Bà không đồng ý. Hôm sau bà gặp riêng Trần Minh, khóc thảm thiết xin Minh nói dối Quang rằng, muốn nhập học trường Thiếu Sinh Quân thì cha phải thuộc chủ lực quân, còn cha Quang là địa phương quân thì không được. Minh từ chối:
- Em không muốn nói dối cháu. Cháu là Quốc Gia Nghĩa Tử thì ưu tiên nhập học. Em nghĩ chị nên cho cháu vào trường Thiếu Sinh Quân, thì tương lai của cháu sẽ tốt đẹp hơn ở với gia đình, trong khuôn khổ nhỏ hẹp.
Chiều hôm ấy Quang tìm đến Minh để nghe nói về đời sống trong trường Thiếu Sinh Quân. Đã không giúp bà Đức thì chớ, Minh còn đi cùng Quang tới nhà bà, hướng dẫn bà thủ tục xin cho Quang nhập trường. Thế rồi bà Đức đành phải chiều con. Bà đến phòng 3, tiểu khu Chương Thiện làm thủ tục cho con. Bà gặp may. Trong phòng 3 Tiểu Khu, có Trung Sĩ Nhất Cao Năng Hải, cũng là cựu Thiếu Sinh Quân. Hải lo làm tất cả mọi thủ tục giúp bà. Sợ bà đổi ý, thì mình sẽ mất thằng em dễ thương. Hải lên gặp Thiếu-tá Lê Minh Đảo, Tiểu Khu trưởng trình bầy trường hợp của Quang. Thiếu Tá Đảo soạn một văn thư, đính kèm đơn của bà Đức, xin bộ Tổng Tham Mưu dành ưu tiên cho Quang.
Tháng 8 năm 1968, Quang được giấy gọi nhập học trường Thiếu Sinh Quân, mà không phải thi. Bà Đức thân dẫn con đi Vũng Tàu trình diện. Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Quang trở thành một Thiếu Sinh Quân Việt Nam.
Quả thực trường Thiếu Sinh Quân là thiên đường của Quang. Quang có nhiều bạn cùng lứa tuổi, dư thừa chân khí, chạy nhảy vui đùa suốt ngày. Quang thích nhất những giờ huấn luyện tinh thần, những giờ học quân sự. Còn học văn hóa thì Quang lười, học sao đủ trả nợ thầy, không bị phạt là tốt rồi. Quang thích đá banh, và học Anh văn. Trong lớp, môn Anh văn, Quang luôn đứng đầu. Chỉ mới học hết đệ lục, mà Quang đã có thể đọc sách báo bằng tiếng Anh, nói truyện lưu loát với cố vấn Mỹ. 
Giáo-sư Việt văn của Quang là thầy Phạm Văn Viết, người mà Quang mượn bóng dáng để thay thế người cha. Có lần thầy Viết giảng đến câu :
 
 
“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh” 
(Người ta sinh ra, ai mà không chết.
Cần phải lưu chút lòng son vào thanh sử).
 
Quang thích hai câu này lắm, luôn miệng ngâm nga, rồi lại viết vào cuốn sổ tay. 
Trong giờ học sử, cũng như giờ huấn luyện tinh thần, Quang được giảng chi tiết về các anh hùng : Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản, thánh tổ của Thiếu Sinh Quân, giết tươi Toa Đô trong trận Hàm Tử. Quang cực kỳ sùng kính Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, từ chối công danh, chịu chết cho toàn chính khí. Quang cũng khâm phục Nguyễn Biểu, khi đối diện với quân thù, không sợ hãi, lại còn tỏ ra khinh thường chúng. Ba nhân vật này ảnh hưởng vào Quang rất sâu, rất đậm.
Suốt các niên học từ 1969-1974, mỗi kỳ hè, được phép 2 tháng rưỡi về thăm nhà, cậu bé Thiếu Sinh Quân Vũ Tiến Quang tìm đến các đàn anh trấn đóng tại Chương Thiện để trình diện. Quang được các cựu Thiếu Sinh Quân dẫn đi chơi, cho ăn quà, kể truyện chiến trường cho nghe. Một số ông uống thuốc liều, cho Quang theo ra trận. Quang chiến đấu như một con sư tử. Không ngờ mấy ông anh cưng cậu em út quá, mà gây ra một truyện động trời, đến nỗi bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam, bộ Tư-lệnh MACV cũng phải rởn da gà! Sau trở thành huyền thoại. Câu chuyện như thế này: 

Hè 1972, mà quân sử Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa, giữa lúc chiến trường toàn quốc sôi động. Bấy giờ Quang đã đỗ chứng chỉ 1 Bộ Binh. Được phép về thăm nhà, được các đàn anh cho ăn, và giảng những kinh nghiệm chiến trường, kinh nghiệm đời. Quang xin các anh cho theo ra trận. Mấy ông cựu Thiếu Sinh Quân, trăm ông như một, ông nào gan cũng to, mật cũng lớn, lại coi trời bằng vung. Yêu cậu em ngoan ngoãn, các ông chiều…cho Quang ra trận. Cuộc hành quân nào mấy ông cũng dẫn Quang theo.
Trong môt cuộc hành quân cấp sư đoàn, đánh vào vùng Hộ Phòng, thuộc Cà Mau. Đơn vị mà Quang theo là trung đội trinh sát của trung đoàn 31. Trung đội trưởng là một thiếu úy cựu Thiếu Sinh Quân. Hôm ấy, thông dịch viên cho cố vấn bị bệnh, Quang lại giỏi tiếng Anh, nên thiếu úy trung đội trưởng biệt phái Quang làm thông dịch viên cho cố vấn là thiếu úy Hummer. Trực thăng vừa đổ quân xuống thì hiệu thính viên của Hummer trúng đạn chết ngay. Lập tức Quang thay thế anh ta. Nghĩa là mọi liên lạc vô tuyến, Hummer ra lệnh cho Quang, rồi Quang nói lại trong máy. 
Trung đội tiến vào trong làng thì lọt trận điạ phục kích của trung đoàn chủ lực miền, tên trung đoàn U Minh. Trung đội bị một tiểu đoàn địch bao vây. Vừa giao tranh được mười phút thì Hummer bị thương. Là người can đảm, Hummer bảo Quang đừng báo cáo về Trung-tâm hành quân. Trận chiến kéo dài sang giờ thứ hai thì Hummer lại bị trúng đạn nữa, anh tử trận, thành ra không có ai liên lạc chỉ huy trực thăng võ trang yểm trợ. Kệ, Quang thay Hummer chỉ huy trực thăng võ trang. Vì được học địa hình, đọc bản đồ rất giỏi, Quang cứ tiếp tục ra lệnh cho trực thăng võ trang nã vào phòng tuyến địch, coi như Hummer còn sống. Bấy giờ quân hai bên gần như lẫn vào nhau, chỉ còn khoảng cách 20-30 thước. 
Thông thường, tại các quân trường Hoa-kỳ cũng như Việt Nam, dạy rằng khi gọi pháo binh, không quân yểm trợ, thì chỉ xin bắn vào trận địa địch với khoảng cách quân mình 70 đến 100 thước. Nhưng thời điểm 1965-1975, các cựu Thiếu Sinh Quân trong khu 42 chiến thuật khi họp nhau để ăn uống, siết chặt tình thân hữu, đã đưa ra phương pháp táo bạo là xin bắn vào phòng tuyến địch, dù cách mình 20 thước. Quang đã được học phương pháp đó. Quang chỉ huy trực thăng võ trang nã vào trận địch, nhiều rocket (hoả tiễn nhỏ), đạn 155 ly nổ sát quân mình, làm những binh sĩ non gan kinh hoảng. Nhờ vậy, mà trận địch bị tê liệt. 
Sau khi được giải vây, mọi người khám phá ra Quang lĩnh tới bẩy viên đạn mà không chết: trên mũ sắt có bốn vết đạn bắn hõm vào; hai viên khác trúng ngực, may nhờ có áo giáp, bằng không thì Quang đã ô-hô ai-tai rồi. Viên thứ bẩy trúng…chim. Viên đạn chỉ xớt qua, bằng không thì Quang thành thái giám.
Trung-tá J.F. Corter, cố vấn trưởng trung đoàn được trung đội trưởng trinh sát báo cáo Hummer tử trận lúc 11 giờ 15. Ông ngạc nhiên hỏi
- Hummer chết lúc 11.15 giờ, mà tại sao tôi vẫn thấy y chỉ huy trực thăng, báo cáo cho đến lúc 17 giờ?
Vì được học kỹ về tinh thần trách nhiệm, Quang nói rằng mình là người lạm quyền, giả lệnh Hummer, thay Hummer chỉ huy. Quang xin lỗi Corter. Trung-tá J.F. Corter tưởng Quang là lính người lớn, đề nghị gắn huy chương Hoa Kỳ cho Quang. Bấy giờ mới lòi đuôi chuột ra rằng các ông cựu Thiếu Sinh Quân đã uống thuốc liều, cho thằng em sữa ra trận.

Đúng ra theo quân luật, mấy ông anh bị phạt nặng, Quang bị đưa ra tòa vì “Không có tư cách mà lại chỉ huy”. Nhưng các vị sĩ quan trong sư đoàn 21, trung đoàn 31 cũng như cố vấn đều là những người của chiến trường, tính tình phóng khoáng, nên câu truyện bỏ qua. Quang không được gắn huy chương, mà mấy ông anh cũng không bị phạt. Hết hè, Quang trở về trường mang theo kỷ niệm chiến đấu cực đẹp trong đời cậu bé, mà cũng là kỷ niệm đẹp vô cùng của Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Câu truyện này trở thành huyền thoại. Huyền thoại này lan truyền mau lẹ khắp năm tỉnh của khu 42 chiến thuật : Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Chương Thiện. Quang trở thành người hùng lý tưởng của những thiếu nữ tuổi 15-17 ! 
Năm 1974, sau khi đỗ chứng chỉ 2 Bộ Binh, Quang ra trường, mang cấp bậc trung sĩ. Quang nộp đơn xin về sư đoàn 21 Bộ Binh. Quang được toại nguyện. Sư đoàn phân phối Quang về tiểu đoàn Ngạc Thần tức tiểu đoàn 2 trung đoàn 31, tiểu đoàn của Trần Minh sáu năm trước. Thế là giấc mơ 6 năm trước của Quang đã thành sự thực.
Trung đoàn 31 Bộ Binh đóng tại Chương Thiện. Bấy giờ tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Chương Thiện là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tham mưu trưởng tiểu khu là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời.. Cả hai đều là cựu Thiếu Sinh Quân. Đại-tá Cẩn là cựu Thiếu Sinh Quân cao niên nhất vùng Chương Thiện bấy giờ (36 tuổi). Các cựu Thiếu Sinh Quân trong tiểu đoàn 2-31 dẫn Quang đến trình diện anh hai Cẩn. Sau khi anh em gặp nhau, Cẩn đuổi tất các tùy tùng ra ngoài, để anh em tự do xả xú báp. 
Cẩn bẹo tai Quang một cái, Quang đau quá nhăn mặt. Cẩn hỏi:
- Ê ! Quang, nghe nói mày lĩnh bẩy viên đạn mà không chết, thì mày thuộc loại mình đồng da sắt. Thế sao tao bẹo tai mày, mà mày cũng đau à?
- Dạ, đạn Việt-cộng thì không đau. Nhưng vuốt anh cấu thì đau.
- Móng tay tao, đâu phải vuốt?
- Dạ, người ta nói anh là cọp U Minh Thượng…Thì vuốt của anh phải sắc lắm
- Hồi đó suýt chết, thế bây giờ ra trận mày có sợ không?
- Nếu khi ra trận anh sợ thì em mới sợ. Cái lò Thiếu Sinh Quân có bao giờ nặn ra một thằng nhát gan đâu ?
- Thằng này được. Thế mày đã trình diện anh Thời chưa?
- Dạ anh Thời-thẹo không có nhà.
Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời, tham mưu trưởng Tiểu-khu, uy quyền biết mấy, thế mà một trung sĩ 18 tuổi dám gọi cái tên húy thời thơ ấu ra, thì quả là một sự phạm thượng ghê gớm. Nhưng cả Thời lẫn Quang cùng là cựu Thiếu Sinh Quân thì lại là một sự thân mật. Sau đó anh em kéo nhau đi ăn trưa. Lớn, bé cười nói ồn ào, như không biết tới những người xung quanh.
Bấy giờ tin Trần Minh đã đền nợ nước tại giới tuyến miền Trung. Sự ra đi của người đàn anh, của người hùng lý tưởng làm Quang buồn không ít. Nhưng huyền thoại về Trần Minh lưu truyền, càng làm chính khí trong người Quang bừng bừng bốc lên.
Tại sư đoàn 21 Bộ Binh, tất cả các hạ sĩ quan cũng như các Thiếu Sinh Quân mới ra trường, thường chỉ được theo hành quân như một khinh binh. Đợi một vài tháng đã quen với chiến trường, rồi mới được chỉ định làm tiểu đội trưởng. Nhưng vừa trình diện, Quang được cử làm trung đội phó ngay, dù hầu hết các tiểu đội trưởng đều ở cấp trung sĩ, trung sĩ nhất, mà những người này đều vui lòng. Họ tuân lệnh Quang răm rắp!
Sáu tháng sau, đầu năm 1975 nhờ chiến công, Quang được thăng trung sĩ nhất, nhưng chưa đủ một năm thâm niên, nên chưa được gửi đi học sĩ quan. Quang trở thành nổi tiếng trong trận đánh ngày 1-2-1975, tại Thới Lai, Cờ Đỏ. Trong ngày hôm ấy, đơn vị của Quang chạm phải tiểu đoàn Tây Đô. Đây là một tiểu đoàn được thành lập từ năm 1945, do các sĩ quan Nhật Bản không muốn về nước, trốn lại Việt Nam…huấn luyện.. Quang đã được Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn giảng về kinh nghiệm chiến trường: 
“Tây Đô là tiểu đoàn cơ động của tỉnh Cần Thơ. Tiểu đoàn có truyền thống lâu đời, rất thiện chiến. Khi tác chiến cấp đại đội, tiểu đoàn chúng không hơn các đơn vị khác làm bao. Nhưng tác chiến cấp trung đội, chúng rất giỏi. Chiến thuật thông thường, chúng dàn ba tiểu đội ra, chỉ tiểu đội ở giữa là nổ súng. Nếu thắng thế, thì chúng bắn xối xả để uy hiếp tinh thần ta, rồi hai tiểu đội hai bên xung phong. Nếu yếu thế, thì chúng lui. Ta không biết, đuổi theo, thì sẽ dẫm phải mìn, rồi bị hai tiểu đội hai bên đánh ép. Vì vậy khi đối trận với chúng, phải im lặng không bắn trả, để chúng tưởng ta tê liệt. Khi chúng bắt đầu xung phong, thì dùng vũ khí cộng đồng nã vào giữa, cũng như hai bên. Thấy chúng chạy, thì tấn công hai bên, chứ đừng đuổi theo. Còn như chúng tiếp tục xung phong ta phải đợi chúng tới gần rồi mớí phản công”
Bây giờ Quang có dịp áp dụng. Sau khi trực thăng vận đổ quân xuống. Cả đại đội của Quang bị địch pháo chụp lên đầu, đại liên bắn xối xả. Không một ai ngóc đầu dậy được. Nhờ pháo binh, trực thăng can thiệp, sau 15 phút đại đội đã tấn công vào trong làng. Vừa tới bìa làng, thiếu úy trung đội trưởng của Quang bị trúng đạn lật ngược. Quang thay thế chỉ huy trung đội. Trung đội dàn ra thành một tuyến dài đến gần trăm mét. Đến đây, thì phi pháo không can thiệp được nữa, vì quân hai bên chỉ cách nhau có 100 mét, gần như lẫn vào nhau. Nhớ lại lời giảng của Cẩn, Quang ra lệnh im lặng, chỉ nổ súng khi thấy địch. Ngược lại ngay trước mặt Quang, khoảng 200 thước là một cái hầm lớn, ngay trước hầm hai khẩu đại liên không ngừng nhả đạn. Quang ghi nhận vị trí hai khẩu đại liên với hai khẩu B40 ra lệnh: 
” Lát nữa khi chúng xung phong thì dùng M79 diệt hai khẩu đại liên, B40, rồi hãy bắn trả “.
Sau gần 20 phút, thình lình địch xả súng bắn xối xả như mưa, như gió, rồi tiếng hô xung phong phát ra. Chỉ chờ có thế, M79 của Quang khai pháo. Đại liên, B40 bị bắn tung lên, trong khi địch đang xung phong. Bấy giờ trung đội của Quang mới bắn trả. Chỉ một loạt đạn, toàn bộ phòng tuyến địch bị cắt. Quang ra lệnh xung phong. Tới căn hầm, binh sĩ không dám lại gần, vì bị lựu đạn từ trong ném ra. Quang ra lệnh cho hai khẩu đại liên bắn yểm trợ, rồi cho một khinh binh bò lại gần, tung vào trong một quả lựu đạn cay. Trong khi Quang hô :
- Ra khỏi hầm, dơ tay lên đầu ! Bằng không lựu đạn sẽ ném vào trong.
Cánh cửa hầm mở ra, mười tám người, nam có, nữ có, tay dơ lên đầu, ra khỏi hầm, lựu đạn cay làm nước mắt dàn dụa. 
Đến đây trận chiến chấm dứt. 
Thì ra 18 người đó là đảng bộ và ủy ban nhân dân của huyện châu thành Cần Thơ. Trong đó có viên huyện ủy và viên chủ tịch ủy ban nhân dân huyện.
Sau trận này Quang được tuyên dương công trạng trước quân đội, được gắn huy chương Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu. Trong lễ chiến thắng giản dị, Quang được một nữ sinh trường Đoàn Thị Điểm quàng vòng hoa. Nữ sinh đó tên Nguyễn Hoàng Châu, 15 tuổi, học lớp đệ ngũ. Cho hay, anh hùng với giai nhân xưa nay thường dễ cảm nhau. Quang, Châu yêu nhau từ đấy. Họ viết thư cho nhau hàng ngày. Khi có dịp theo quân qua Cần Thơ, thế nào Quang cũng gặp Châu. Đôi khi Châu táo bạo, xuống Chương Thiện thăm Quang. Mẹ Quang biết truyện, bà lên Cần Thơ gặp cha mẹ Châu. Hai gia đình đính ước với nhau. Họ cùng đồng ý : Đợi năm tới, Quang xin học khóa sĩ quan đặc biệt, Châu 17 tuổi, thì cho cưới nhau. 
Nhưng mối tình đó đã đi vào lịch sử…

Tình hình toàn quốc trong tháng 3, tháng 4 năm 1975 biến chuyển mau lẹ. Ban Mê Thuột bị mất, Quân Đoàn 2 rút lui khỏi Cao Nguyên, rồi Quân Đoàn 1 bỏ mất lãnh thổ. Rồi các sĩ quan bộ Tổng Tham Mưu được Hoa Kỳ bốc đi. Ngày 29-4, trung đội của Quang chỉ còn mười người. Tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng bỏ ngũ về lo di tản gia đình. Quang vào bộ chỉ huy tiểu khu Chương Thiện trình diện Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Cẩn an ủi :  - Em đem mấy người thuộc quyền vào đây ở với anh.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, tướng  Dương Văn Minh phát thanh bản văn ra lệnh cho quân đội Việt Nam Cộng-hòa buông súng đầu hàng. Tất cả các đơn vị quân đội miền Nam tuân lệnh, cởi bỏ chiến bào, về sống với gia đình. Một vài đơn vị lẻ lẻ còn cầm cự. Tiếng súng kháng cự của các đơn vị Dù tại Sài-gòn ngừng lúc 9 giờ 7 phút.
Đúng lúc đó tại Chương Thiện, tỉnh trưởng kiêm Tiểu Khu trưởng là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Ông đang chỉ huy các đơn vị thuộc quyền chống lại cuộc tấn công của Cộng quân. Phần thắng đã nằm trong tay ông. Lệnh của Dương Văn Minh truyền đến. Các quận trưởng chán nản ra lệnh buông súng. Chỉ còn tỉnh lỵ là vẫn chiến đấu. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ra lệnh: 
“Dương Văn Minh lên làm Tổng-thống trái với hiến pháp. Ông ta không có tư cách của vị Tổng Tư Lệnh. Hãy tiếp tục chiến đấu”.
Nhưng đến 12 giờ trưa, các đơn vị dần dần bị tràn ngập, vì quân ít, vì hết đạn vì mất tinh thần. Chỉ còn lại bộ chỉ huy tiểu khu. Trong bộ chỉ huy tiểu khu, có một đại đội địa phương quân cùng nhân viên bộ ham mưu. Đến 13 giờ, lựu đạn, đạn M79 hết. Tới 14 giờ 45, thì đạn hết, làn sóng Cộng quân tràn vào trong bộ chỉ huy. Cuối cùng chỉ còn một ổ kháng cự từ trong một hầm chiến đấu, nơi đó có khẩu đại liên. Một quả lựu đạn cay ném vào trong hầm, tiếng súng im bặt. Quân Cộng Sản vào hầm lôi ra hai người. Một là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng, kiêm tiểu khu trưởng và một trung sĩ mớí 19 tuổi. Trung sĩ đó tên là Vũ Tiến Quang. 
Bấy giờ đúng 15 giờ. 
Kẻ chiến thắng trói người chiến bại lại. Viên đại tá chính ủy của đơn vị có nhiệm vụ đánh tỉnh Chương Thiện hỏi:
- Đ.M. Tại sao có lệnh đầu hàng, mà chúng mày không chịu tuân lệnh?

Đại Tá Cẩn trả lời bằng nụ cười nhạt. 
Trung sĩ Quang chỉ Đại Tá Cẩn:
- Thưa đại tá, tôi không biết có lệnh đầu hàng. Ví dù tôi biết, tôi cũng vẫn chiến đấu. Vì anh ấy là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Anh ra lệnh chiến đấu, thì tôi không thể cãi lệnh.
Cộng quân thu nhặt xác chết trong, ngoài bộ chỉ huy tiểu khu. Viên chính ủy chỉ những xác chết nói với Đại Tá Cẩn:
- Chúng mày là hai tên ngụy ác ôn nhất. Đ.M. Chúng mày sẽ phải đền tội.
Đại Tá Cẩn vẫn không trả lời, vẫn cười nhạt. Trung sĩ Quang ngang tàng:
- Đại tá có lý tưởng của đại tá, tôi có lý tưởng của tôi. Đại tá theo Karl Marx, theo Lénine; còn tôi, tôi theo vua Hùng, vua Trưng. Tôi tuy bại trận, nhưng tôi vẫn giữ lý tưởng của tôi. Tôi không gọi đại tá là tên Việt Cộng. Tại sao đại tá lại mày tao, văng tục với chúng tôi như bọn ăn cắp gà, phường trộm trâu vậy? Phải chăng đó ngôn ngữ của đảng Cộng-sản ?
Viên đại tá rút súng kề vào đầu Quang:
- Đ.M. Tao hỏi mày, bây giờ thì mày có chính nghĩa hay tao có chính nghĩa?
- Xưa nay súng đạn trong tay ai thì người đó có lý. Nhưng đối với tôi, tôi học trường Thiếu Sinh Quân, súng đạn là đồ chơi của tôi từ bé. Tôi không sợ súng đâu. Đại tá đừng dọa tôi vô ích. Tôi vẫn thấy tôi có chính nghĩa, còn đại tá không có chính nghĩa. Tôi là con cháu Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản mà.
- Đ.M. Mày có chịu nhận mày là tên ngụy không?
- Tôi có chính nghĩa thì tôi không thể là ngụy. Còn Cộng quân dùng súng giết dân mới là ngụy, là giặc cướp. Tôi nhất quyết giữ chính khí của tôi như Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, như Nguyễn Biểu.
Quang cười ngạo nghễ:
- Nếu đại tá có chính nghĩa tại sao đại tá lại dùng lời nói thô tục vớí tôi? Ừ! Muốn mày tao thì mày tao. Đ.M. tên Cộng Sản ác ôn! Nếu tao thắng, tao dí súng vào thái dương mày rồi hỏi: Đ.M.Mày có nhận mày là tên Việt Cộng không? Thì mày trả lời sao?
Một tiếng nổ nhỏ, Quang ngã bật ngửa, óc phọt ra khỏi đầu, nhưng trên môi người thiếu niên còn nở nụ cười. Tôi không có mặt tại chỗ, thành ra không mường tượng ý nghĩa nụ cười đó là nụ cười gì? Độc giả của tôi vốn thông minh, thử đoán xem nụ cưòi đó mang ý nghĩa nào? Nụ cười hối hận ? Nụ cười ngạo nghễ? Nụ cười khinh bỉ? Hay nụ cười thỏa mãn? 

Ghi chú :
Nhân chứng quan trọng nhất, chứng kiến tận mắt cái chết của Vũ Tiến Quang thuật cho tác giả nghe là cô Vũ Thị Quỳnh Chi. Cô là em ruột của Quang, nhỏ hơn Quang 4 tuổi. Lúc anh cô bị giết, cô mới 15 tuổi (cô sinh năm 1960). Hiện (1999) cô là phu nhân của bác sĩ Jean Marc Bodoret, học trò của tôi, cư trú tại Marseille.

Cái lúc mà Quang ngã xuống, thì trong đám đông dân chúng tò mò đứng xem có tiếng một thiếu nữ thét lên như xé không gian, rồi cô rẽ những người xung quanh tiến ra ôm lấy xác Quang. Thiếu nữ đó là Nguyễn Hoàng Châu. Em gái Quang là Vũ thị Quỳnh Chi đã thuê được chiếc xe ba bánh. Cô cùng Nguyễn Hoàng Châu ôm xác Quang bỏ lên xe, rồi bọc xác Quang bằng cái Poncho, đem chôn.
Chôn Quang xong, Châu từ biệt Quỳnh Chi, trở về Cần Thơ. Nhưng ba ngày sau, vào một buổi sáng sớm Quỳnh-Chi đem vàng hương, thực phẩm ra cúng mộ anh, thì thấy Châu trong bộ y phục trắng của nữ sinh, chết gục bên cạnh. Mặt Châu vẫn tươi, vẫn đẹp như lúc sống. Đích thân Quỳnh Chi dùng mai, đào hố chôn Châu cạnh mộ Quang.
Năm 1998, tôi có dịp công tác y khoa trong đoàn Liên Hiệp các viện bào chế Châu Âu (CEP= Coopérative Européenne Pharmaceutique) , tôi đem J.M Bodoret cùng đi, Quỳnh Chi xin được tháp tùng chồng. Lợi dụng thời gian nghỉ công tác 4 ngày, từ Sài-gòn, chúng tôi thuê xe đi Chương Thiện, tìm lại ngôi mộ Quang-Châu. Ngôi mộ thuộc loại vùi nông một nấm dãi dầu nắng mưa, cỏ hoa trải 22 năm, rất khó mà biết đó là ngôi mộ. Nhưng Quỳnh-Chi có trí nhớ tốt. Cô đã tìm ra. Cô khóc như mưa, như gió, khóc đến sưng mắt. Quỳnh-Chi xin phép cải táng, nhưng bị từ chối. Tuy nhiên, cuối cùng có tiền thì mua tiên cũng được. Giấy phép có. Quỳnh-Chi cải táng mộ Quang-Châu đem về Kiên Hưng, chôn cạnh mộ của ông Vũ Tiến Đức. Quỳnh-Chi muốn bỏ hài cốt Quang, Châu vào hai cái tiểu khác nhau. Tôi là người lãng mạn. Tôi đề nghị xếp hai bộ xương chung với nhau vào trong một cái hòm. Bodoret hoan hô ý kiến của sư phụ.
Ngôi mộ của ông Đức, của Quang-Châu xây xong. Tôi cho khắc trên miếng đồng hàng chữ:

“Nơi đây AET Vũ Tiến Quang, 19 tuổi,
An giấc ngàn thu cùng
Vợ là Nguyễn Hoàng Châu
Nở nụ cười thỏa mãn vì thực hiện được giấc mộng”

Giấc mộng của Quang mà tôi muốn nói, là: được nhập học trường Thiếu Sinh Quân, rồi trở thành anh hùng. Giấc mộng của Châu là được chết, được chôn chung với người yêu. Nhưng người ta có thể hiểu rằng: Quang thỏa mãn nở nụ cười vì mối tình trọn vẹn. 
Paris ngày 13 tháng 4 năm 1999.
Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.