Friday, May 6, 2011

MỤC TIÊU “BRA” (30/5/1970)


MỤC TIÊU “BRA” (30/5/1970)
By Col. Don Summers, edited by Robert L. Noe

        Phi đoàn 170 đã làm việc cho đơn vị SOG trong những chuyến hành quân bí mật, kể từ khi sang Việt Nam. Đến cuối năm 1969, phi đoàn đã nổi tiếng, được tín nhiệm làm việc hoàn toàn (full time) với đơn vị SOG trên Bộ Chỉ Huy Trung ở Kontum. Phi hành đoàn trực thăng trong phi đoàn 170 cũng say mê với nhiệm vụ, hy sinh tính mạng trong những chuyến bay đưa quân biệt kích SOG xâm nhập, triệt xuất hay cấp cứu. Tuy nhiên chỉ có một số rất ít tài liệu nói về phi đoàn này. Câu chuyện xẩy ra ngày 30 tháng Năm 1970 liên quan tới phi công trực thăng, chuẩn úy Brian J. Devaney là một trường hợp điển hình.
        Năm 1969, trận đánh Dak To gây cho phi đoàn 170 nhiều thiệt hại về nhân mạng cũng như phi cơ, dụng cụ. Nhiều người tử trận, số bị thương nhiều hơn, và nhiều người đã hết thời gian phục vụ tại Việt Nam được trở về Hoa Kỳ. Một chuẩn úy nổi tiếng can đảm, tận tâm phục vụ trong phi đoàn “Bikini Birds” (170), tình nguyện ở lại thêm sáu tháng để huấn luyện cho mấy phi công mới thuyên chuyển đến phi đoàn. Họ phải bay những phi vụ “đặc biệt” cho đơn vị SOG xâm nhập vào đất Lào và Miên.
        Chuẩn úy Brian J. Devaney, bạn bè thường gọi BJ là một sĩ quan Lục Quân Hoa Kỳ, nhưng sinh quán, quốc tịch Canada. Viên chuẩn úy rất dễ thương, cởi mở, sinh quán ở Toronto, Canada, qua Hoa Kỳ lúc còn nhỏ tuổi, nhưng vẫn giữ quốc tịch Canada. Anh ta tình nguyện vào quân đội, tình nguyện qua Việt Nam, tình nguyện làm việc cho đơn vị SOG và tình nguyện ở lại thêm sáu tháng. Đó cũng là lần cuối cùng BJ tình nguyện.
        Trận tấn công trại LLĐB Dak Seang trong tháng Tư năm 1970, xẩy ra gần giống như trận đánh Dak To năm ngoái. Phi đoàn 170, một lần nữa “tiêu thụ” gần hết nhân lực và trực thăng. Những phi công còn lại đã quá mệt mỏi hoặc đã hết chịu nổi xin thuyên chuyển hoặc không còn khả năng bay những phi vụ nguy hiểm nữa. Trong khi những phi công mới đổi về để thay thế số quân nhân tử trận, bị thương, chỉ có phi công thuộc phi đoàn 57 Trực Thăng Tấn Công mới quen bay những phi vụ cho đơn vị SOG.
        Đêm 29 tháng Tư, Brian Devaney chợt ghé trung tâm hành quân, trên đường đi câu lạc bộ uống rượu, bia với bạn bè. Anh ta đã được cấp chỉ huy lấy tên ra khỏi bảng phong thần, chờ ngày trở về Hoa Kỳ. Chuyến phi vụ cuối cùng, Brian đưa một toán biệt kích xâm nhập mục tiêu “Bra” nơi phiá nam nước Lào. Lúc thả toán biệt kích, phi cơ bị trúng nhiều đạn súng trường nên không được an tâm cho toán biệt kích. Trong trung tâm hành quân, Brian được biết, toán biệt kích đang lẩn tránh, sau nhiều lần chạm súng với những toán truy lùng biệt kích của địch.
        Toán biệt kích SOG đang bố trí qua đêm trên một sườn đồi và báo cáo về, nghe nhiều tiếng động, di chuyển của quân đội Bắc Việt xung quanh vị trí đóng quân đêm. Đã có nhiều kinh nghiệm, Brian nhận thấy... rắc rối sắp xẩy ra cho toán biệt kích. Chàng ghi tên mình trong bảng phong thần cho các phi vụ ngày hôm sau, tình nguyện lên căn cứ hành quân tiền phương ứng chiến. Là người thâm niên, làm trưởng toán, cùng bay trên chiếc trực thăng với Brian có chuẩn úy Mike Taylor... Brian cảm thấy mình... có trách nhiệm với toán biệt kích đang lâm nguy. Sau đó Brian rời trung tâm hành quân đi câu lạc bộ.
        Mục tiêu “Bra”, ai cũng phải công nhận là chỗ “khó chơi” nhất trong các mục tiêu nơi hướng nam nước Lào. Khu vực được đặt tên là “Bra” vì hình dáng điạ thế của khúc sông, nơi đường 110 tẽ ra, đâm vào đường mòn HCM. Đường 96 chạy xuyên qua “Bra” là con đường huyết mạch (chính) để quân đội Bắc Việt chuyển quân cùng với đồ tiếp vận. Các hoạt động của địch trong khu vực “Bra” rất nhộn nhịp, tấp nập, các phi công trực thăng cũng như biệt kích SOG nghiến răng khi bốc thăm nhằm mục tiêu “Bra”.
        Binh trạm 37, một binh trạm lớn của quân đội Bắc Việt cũng nằm trong khu vực “Bra”. Căn cứ điạ này có những kho hàng chứa vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng cùng những đồ tiếp vận của địch, sau đó được vận chuyển trên hệ thống đường mòn HCM vào miền nam Việt Nam. Binh trạm 37 được một tiểu đoàn Bắc Việt bảo vệ cùng những toán quân được huấn luyện kỹ càng để truy lùng, tiêu diệt biệt kích SOG xâm nhập.
        Xung quanh khu vực “Bra” có nhiều đơn vị phòng không được xây dựng từ năm 1968. Trực thăng MI-6 do Nga Sô chế tạo cũng đã được nhìn thấy trong khu vực “Bra”. Cả phi công trực thăng lẫn các toán biệt kích phải “vào” mục tiêu “Bra” vì được lệnh (hoặc bốc thăm). Không ai muốn tình nguyện, ngoại trừ Brian Devaney.
        Toán biệt kích SOG đang lẩn trốn trong khu vực “Bra” gồm có hai toán biệt kích quân người Thượng và toán biệt kích Hoa Kỳ gồm có: đại úy Smith, trung úy John Naurot, thượng sĩ Windel Glass, trung sĩ nhất Carnege, trung sĩ Carpenter, trung sĩ Richard Pinental, và trung sĩ Bennett. Sau khi phi đoàn 170 đưa toán biệt kích vào mục tiêu, toán biệt kích bắt đầu leo núi về hướng đường 96, định tổ chức phục kích, bắt sống tù binh đem về khai thác. Khi toán biệt kích di chuyển đến gần con đường, nghe nhiều tiếng người nói chuyện, nên lại gần để chụp ảnh đoàn quân Bắc Việt đang di chuyển trên đường. Sau đó toán biệt kích di chuyển xa ra khỏi con đường, lên sườn núi, đóng quân qua đêm. Cả đêm đó, toán biệt kích nghe nhiều âm thanh, tiếng động dưới thung lũng và định sáng hôm sau sẽ xuống dò thám.
        Sáng hôm sau, Brian cùng với ba trực thăng khác bay lên căn cứ hành quân tiền phương Dak To, ứng chiến để triệt xuất toán biệt kích. Đã quá quen thuộc với nhiệm vụ, bốn chiếc trực thăng phi đoàn 170 “Bikini” đậu song song trong bãi đáp. Trên trực thăng của Brian có phi cộng phụ, chuẩn úy Taylor, hạ sĩ John Martin cơ khí, và một xạ thủ đại liên M-60 (không biết tên). Sẽ là chiếc trực thăng bay đầu (lead). Chiếc trực thăng bay theo (chase, phụ) có chuẩn úy Rich Glover, một phi công “theo mùa” làm việc cho đơn vị SOG trên căn cứ hành quân tiền phương, cùng với thiếu úy Robert Talmadge. Trên chiếc trực thăng thứ ba là thiếu úy Greg Landers, cùng với đại úy Dave Gardner, người điều khiển dây “câu” (biệt kích) là chuẩn úy Alan Hoffman, chuẩn úy Kaseimngồi ghế bên phải. Khi ánh mặt trời lên cao hơn rặng núi (Trường Sơn) của Việt Nam, Brian cùng với phi hành đoàn ngồi “đấu láo” với phi công, phi hành đoàn trong phi đoàn Báo Hồng (Pink Panther) 361 trực thăng võ trang Cobras. Tất cả mọi người đều chờ đợi... tiếng gọi cấp cứu từ bên Lào.
        Trong khi đó, toán biệt kích SOG đã xuống núi, di chuyển ngang qua khoảng trống mà trực thăng đã đưa toán biệt kích xâm nhập ngày hôm qua. Khi toán biệt kích leo lên dốc bên kia, toán biệt kích dẫn đầu chạm “mặt đối mặt” với một đại đội lính Bắc Việt. Người lính biệt kích vác khẩu đại liên M-60 bắt buộc phải nổ súng, và trận đánh xẩy ra. Toán biệt kích SOG bố trí chống trả quyết liệt, rồi tiếng súng bớt dần. Toán biệt kích nghi ngờ địch đang chuyển quân qua bên trái vị trí phòng thủ của toán biệt kích để chặn đường rút lui. Đại úy Smith ra hiệu cho toán biệt kích lui nhanh về khoảng trống làm bãi đáp trực thăng, rồi tổ chức phòng thủ trong những hố bom, đồng thời báo về, yêu cầu triệt xuất toán biệt kích khẩn cấp.
        Khi báo về căn cứ hành quân tiền phương Dak To, lệnh đi “bốc” toán biệt kích khẩn cấp “nguội” (bãi đáp an toàn, không “nóng” có địch, không cần trực thăng võ trang yểm trợ). Dak To đã hỏi lại đại úy Smith có cần trực thăng võ trang không và ông ta trả lời, không. Vài phút sau khi nhận lệnh hành quân, Brian cùng hợp đoàn trực thăng lên đường.
        Tin tưởng bãi đáp “nguội”, nên chỉ có bốn chiếc trực thăng thuộc phi đoàn 170 bay đi “bốc” toán biệt kích, mấy chiếc trực thăng vọ trang Cobras phi đoàn 361 “Báo Hồng” không bay theo. Đến bãi đáp, các trực thăng bay vòng tròn trên đầu toán biệt kích, theo thứ đội hình để bay vào. Bãi đáp là một khoảng trống bị thả bom nên có nhiều hố bom và cây cối đổ nát, nên mỗi lần chỉ một trực thăng đáp xuống được. Brian lái trực thăng nhào xuống, tăng tốc độ, bay sát đầu ngọn cây vào bãi đáp trước.
        Khi gần đến bãi đáp, chiếc trực thăng bắt đầu trúng đạn súng trường của địch, cả hai khẩu đại liên M-60 hai bên trực thăng bắn xuống như mưa. Quân Bắc Việt bắn lên bằng đủ loại súng, B-40, đại liên 50, rất chính xác, từ đuôi lên đến đầu chiếc trực thăng đều trúng đạn. Chiếc trực thăng trúng đạn rung chuyển, lắc lư, Brian cố gắng giữ chiếc trực thăng bớt rung nhưng chỉ được vài giây. Trong khi đó ở dưới hố bom, trung sĩ Bennett, cùng một toán viên của anh ta sẽ được đi trước, nên chạy ra khi chiếc trực thăng vừa đáp xuống.
        Khi chiếc trực thăng vừa cất cánh, đạn bắn lên trúng JohnMartin hai viên, một mảnh đạn đại liên 50, xuyên qua sau ghế phi công trúng vào lưng Brian, rồi đổi hướng đi vào tim. Chiếc trực thăng trúng thêm nhiều đạn đại liên, rung lên. John Martin biết trực thăng sắp rơi, vội cầm vũ khí ráng gượng đứng dậy, rồi ngã xỉu. Tiếp theo một tiếng nổ lớn (B-40) nơi trước mũi trực thăng, chiếc máy bay nghiêng qua, nghiêng lại rồi rơi xuống đất. Trung sĩ Bennett bị bắn tung ra ngoài, biệt kích Thượng nhẩy ra khỏi trực thăng bị bắn chết. John Martin đã ngất xỉu, rơi ra ngoài, trúng thêm một viên nữa vào ngực, nhưng áo giáo đã cứu mạng anh ta... Và như một phép mầu nhiệm, John vẫn còn sống với chúng ta.
        Chứng kiến chiếc trực thăng bị bắn rơi, thượng sĩ Glass nhẩy lên khỏi hố bom, chạy lại đến chiếc trực thăng nằm nghiêng, xăng dầu chẩy lan ra mặt đất, dính vào John Martin đang nằm ngất, nhưng đang lồm cồm bò vào bìa rừng, có những hàng cây tránh đạn. Đạn của địch vẫn tiếp tục cầy xới bãi đáp, trúng vào thân cây, tiếng đạn đại liên 50 như muốn xé chiếc trực thăng ra làm nhiều mảnh. Glass chạy lại vác  Martin lên vai giữa tiếng súng của địch, nhẩy xuống một hố bom. Sau đó, Glass chạy đến chiếc trực thăng, bên trong Taylor đang bận rộn với xác chết Brian, chân anh ta bị gẫy vì rớt trực thăng. Một lần nữa, thượng sĩ Glass cõng xác Brian chạy về hố bom tránh đạn, trong khi Taylor chạy lết bết phiá sau. Cuối cùng, Glass chạy ra bế xác người lính biệt kích Thượng về hố bom.
        Toán biệt kích SOG vội vàng báo cho mấy trực thăng khác tránh xa bãi đáp, địch quân có súng đại liên phòng không cùng với đủ loại súng trường, súng phóng hỏa tiễn B-40 trong khu vực bãi đáp, đồng thời yêu cầu không yểm lên thả bom xung quanh bãi đáp. Bốn khu trục A-1 Skyraiders được điều động lên thả bom, tác xạ trên vị trí địch quân, và khu vực xung quanh bãi đáp cho trực thăng vào “bốc” toán biệt kích cùng phi hành đoàn chiếc trực thăng bị rơi.
        Khi bãi đáp đã được “dọn dẹp” sạch sẽ, Glover chúi mũi chiếc trực thăng bay vào bãi đáp nơi toán biệt kích đang bị hỏa lực của địch đàn áp. Landers cũng lái chiếc trực thăng bay theo. Vào đến bãi đáp, chiếc trực thăng cũng bị bắn, Glover vẫn bình tĩnh đợi cho toán biệt kích, phi hành đoàn leo lên trực thăng. Mike Taylor gặp khó khăn đưa xác Brian lên chiếc trực thăng, trong khi đó, thiếu úy Naurot cõng Martin chạy ra trực thăng rồi đỡ anh ta lên. Khi mọi người đã lên đầy đủ, Glover cho đuôi chiếc trực thăng quay về hướng hố bom để cất cánh. Cánh quạt đuôi trực thăng chém vào cành cây bị hư hại, tuy nhiên Glover vẫn cố gắng lái chiếc trực thăng bay ra khỏi những loạt đạn bắn theo của địch.
        Theo sau Glover, hai trực thăng còn lại bay vào cứu phần còn lại của toán biệt kích dưới làn mưa đạn của địch quân. Khi đã an toàn, Talmadge quay lại nhìn Taylor đang ôm đầu Brian đặt trên dùi anh ta, Taylor khẽ lắc đầu. Talmadge tháo dây đai an toàn, bước vào trong bụng trực thăng cố gắng làm cho tim Brian đập trở lại, rồi nói Glover bay thẳng đến bệnh viện 71 dã chiến ở Pleiku. Glover trả lời, chiếc trực thăng đã bị hư hại sợ không được... Trả lời thế nhưng Glover vẫn đổi hướng bay, thay vì về Ben Het, bay thẳng đi Pleiku.
        Chuẩn úy Alan Hoffman cũng bay theo Glover (tình chiến hữu, đồng đội). Nhìn qua chiếc trực thăng của Glover, Hoffman nói, trông thấy Brian đưa tay lên. Talmadge vẫn cố gắng làm cho tim Brian đập trở lại suốt thời gian bay. Họ đến bệnh viện 71 dã chiến ở Pleiku và Brian được đưa vào phòng cấp cứu ngay tức khắc. Vài phút sau, bác sĩ bước ra nói với các bạn của Brian rằng, Brian đã chết, mảnh vỡ đạn đại liên đi vào tim. Cả đám phi công, biệt kích SOG khóc như trẻ con. Sự hy sinh của Brian Devaney làm cả đơn vị tiếc thương.
Dallas, Texas
vđh

TRẠI LLĐB DAK SEANG


TRẠI LLĐB DAK SEANG
15/4/1970
Donald Summers, edited by Robert L. Noe
Phi công trực thăng Al Barthelme
        Trong tháng Ba năm 1970, ông Hoàng Sihanouk đang công du bên Pháp, người em họ của ông, Thủ Tướng Sitik Matak đảo chánh lên cầm quyền cai trị Cambodia. Sau khi ổn định, Matak ra lệnh cho quân đội Bắc Việt và Việt Cộng phải ra khỏi đất Miên trong vòng 48 tiếng đồng hồ. Điều này làm giới lãnh đạo miền Bắc khó xử, họ có hai lựa chọn: Cuốn gói ra khỏi Cambodia, điều này khó thực hiện (trong vòng 48 giờ), và cũng không thể chấp nhận được. Lựa chọn thứ hai là “nuốt sống” ông bạn láng giềng Cambodia và họ đã chọn giải pháp thứ hai.
        Đến giữa tháng Tư, quân đội Bắc Việt đã lấy được hai tỉnh lớn của Miên và đe dọa thủ đô Nam Vang. Để người Hoa Kỳ không được rảnh tay chen vào, quân đội Bắc Việt mở những trận tấn công lớn trên vùng cao nguyên, quân đoàn 2 VNCH, bao vây, tấn công các trại Lực Lượng Đặc Biệt: Dak Seang, Dak Pek, Ben Het và Dak To nằm về phiá bắc tỉnh Kontum.
        Để tìm hiểu đối phương, đơn vị Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát (Study and Observation group, SOG) đẩy mạnh các hoạt động của đơn vị này, cho nhiều toán Biệt Kích (phiá Việt Nam gọi là Lôi Hổ, trực thuộc Nha Kỹ Thuật, TTM) xâm nhập vào các căn cứ điạ của quân đội Bắc Việt trong vùng tam biên Việt-Miên-Lào. Tháng Tư 1970 trở nên một tháng rất bận rộn cho phi đoàn 170 trực thăng tấn công Hoa Kỳ.
        Qua tuần lễ thứ hai trong tháng Tư, tin tức tình báo cho biết quân đội Bắc Việt đưa thêm quân vào xung quanh trại LLĐB Dak Seang, cách Dak To khoảng 20 dặm về hướng bắc. Trại LLĐB này nằm trong thung lũng giữa hai rặng núi cao. Các hoạt động của địch trong vùng càng ngày càng gia tăng. Nguồn tin tình báo cho biết, đến ngày 14 tháng Tư, quân đội Bắc Việt đã đưa quân lên tới cấp sư đoàn bao vây căn cứ Dak Seang. Trận tấn công chắc chắn sẽ xẩy ra.
        Một cao điểm chiến thuật trong khu vực là một căn cứ phòng thủ đêm, có tên là bãi đáp Cam (LZ Orange). Bãi đáp này là điểm duy nhất trống trải, giữa một vùng rừng núi, cây cối rậm rạp. Nó cũng là điểm cao nhất trong khu vực, từ bãi đáp Cam có thể nhìn thấy trại LLĐB Dak Seang rất rõ, một cao điểm rất tốt để theo dõi trận đánh sắp xẩy ra. Quân đội VNCH đã quyết tâm chiếm cao điểm chiến lược này bằng mọi giá.
        Theo lệnh hành quân, phi đoàn trực thăng 170 sẽ được phi đội trực thăng võ trang Buccaneer yểm trợ để đưa tiểu đoàn 3 trung đoàn 42 Bộ Binh VNCH vào vùng hành quân. Tiểu đoàn 3/42 sẽ có hai nhiệm vụ, thứ nhất phải chiếm cao điểm, bãi đáp Cam. Thứ hai, trường hợp trại LLĐB Dak Seang bị vây hãm, tiểu đoàn sẽ phải “xuống núi”, tấn công xuyên qua lớp địch quân bao vây trại để vào tăng cường cho quân trú phòng Dân Sự Chiến Đấu trong căn cứ.
        Bốn giờ rưỡi sáng ngày 15 tháng Tư, trực thăng Hoa Kỳ đậu thành hàng dài trong phi trường Kontum. Các phi công, phi hành đoàn, chuyên viên cơ khí, vũ khí bận rộn chuẩn bị cho cuộc đổ quân. Khi ánh mặt trời lên cao cũng là giờ cất cánh đem theo các “hành khách” Việt Nam thuộc tiểu đoàn 3/42 bộ binh. Đoàn trực thăng đổ quân cùng với các trực thăng võ trang bau theo, trực chỉ bãi đáp Cam trong khu vực trại LLĐB Dak Seang.
        Khi gần đến bãi đáp, các phi công nhận ra rất rõ, đó là đỉnh đồi trọc với mầu đất đỏ nổi bật lên giữa mầu xanh của núi rừng, trong khi phi hành đoàn cùng với các trực thăng võ trang xem xét lại vũ khí, ổ hỏa tiễn.
        Sĩ quan phi hành Alan Hoffman, phi tuần trưởng bay chiếc trực thăng dẫn đầu vào bãi đáp, không gặp một trở ngại nào. Hạ Sĩ A. Bivens, Trung Sĩ Rosindo Montana ngồi ngay cửa máy bay, nhẩy xuống trước theo sau là sáu binh sĩ Việt Nam, tiểu đoàn 3/42. Montana mang máy truyền tin chạy ra một triền núi, nấp vào một hố bom, Bivens chạy theo sau anh ta. Hai quân nhân Hoa Kỳ này thuộc toán trinh sát, tiểu đoàn 52 Không Chiến (Aviation batallion), họ “đi nhờ” chuyến đổ quân Việt Nam, và có nhiệm vụ riêng. Lúc đó là 6 giờ 15 phút sáng.
        Khi hai quân nhân Hoa Kỳ đã vào vị trí, chiếc trực thăng thứ hai chở tám binh sĩ Việt Nam bay đến bãi đáp. Chiếc này do một phi công kinh nghiệm điều khiển Albert J. Barthelme Jr., phi công phụ là Roger A. Miller, anh ta mới đến Việt Nam được hai tuần và đây cũng là phi vụ thứ hai của anh ta. Người xạ thủ đại liên là Vincent S. Davies, đã gần hết thời gian phục vụ tại Việt Nam, và người trưởng toán là Donald C. Summers, một cựu Biệt Động Quân (Hoa Kỳ), đã phục vụ hai tours và đang xin thêm lần thứ ba. Cũng như chiếc đầu vào bãi đáp, chiếc thứ hai cũng không thấy trở ngại. Hạ Sĩ Bivens đưa cánh tay lên ra hiệu cho chiếc trực thăng đáp xuống, trong khi Trung Sĩ Montana liên lạc bằng máy truyền tin. Trên chiếc trực thăng, Miller cho chiếc máy bay bay vào chỉ còn cách bãi đáp 50 bộ (feet). Đúng lúc đó lính Bắc Việt khai hỏa.
        Loạt đạn đầu tiên trúng Trung Sĩ Montana làm anh ta khụyu xuống, lên tiếng báo động lần cuối cùng rằng, địch quân khai hỏa từ hai bên, trái phải bãi đáp. Vừa nói xong, Montana trứng thêm một loạt đạn nữa gục xuống chết.
        Bivens vội vàng nhẩy xuống hố bom, đưa súng ra ngoài miệng hố bắn xuống. Chỉ trong vòng một phút đồng hồ, anh ta hết đạn. Sáu binh sĩ Việt Nam chạy đến nấp sau một hố bom khác, vẫn chưa thấy họ bắn trả lại quân Bắc Việt.
        Trên chiếc trực thăng, Summers trúng hai viên đạn, vẫn cố gắng nắm chặt khẩu đại liên M-60 gắn trên trực thăng, bắn trả đũa. Chiếc trực thăng cũng trúng đạn, lắc lư nghiêng qua bên trái, bên phải rồi rơi xuống ngọn đồi. Summers bị mấy xác chết binh sĩ Việt Nam đè lên, Vincent Davies bỏ chạy ra kỏi chiếc trực thăng trước.
        Trên chiếc trực thăng thứ nhất, phi công Hoffman nghe báo cáo chuyện xẩy ra nơi bãi đáp Cam, anh ta bay vòng trở lại đáp xuống bên cạnh chiếc trực thăng trúng đạn. Hoffman trông thấy phi công trưởng Al Barthelme đang bị trở ngại tháo dây an toàn cột anh ta vào ghế phi công. Phi công phụ Roger Miller đang chui ra khỏi máy bay báo cáo tất cả quân nhân Hoa Kỳ đều sống sót. Đủ loại súng nổ trên bãi đáp ngăn cản những trực thăng khác đáp xuống bãi và Hoffman phải cất cánh bay lên.
        Thật may mắn, cả hai viên phi công đều không bị thương khi chiếc trực thăng rơi xuống đất. Al Barthelmer chui ra khỏi máy bay chạy trước, Miller chui ra sau. Trong khi đó Bivens vẫn nấp dưới hố bom tránh đạn và anh chàng đã bắn hết số đạn đem theo.
        Khi trông thấy chiếc máy bay bị rơi, Bivens nhẩy ra khỏi hố bom, chạy lại cứu. Đúng lúc đó phi công trưởng Barthelmer trúng đạn vào lưng, Miller phải lôi anh ta kéo xuống, nấp đằng sau chiếc trực thăng. Người xạ thủ đại liên Davies cũng chạy lại, mấy quân nhân Hoa Kỳ nằm thủ bên cạnh hố bom có mấy quân nhân Việt Nam nằm thủ bên trong.
        Bivens chui vào bên trong trực thăng, đúng lúc Summers đang đẩy xác chết “hành khách” Việt Nam qua một bên để ngoi lên. Bivens đưa tay lôi anh ta lên, dìu ra khỏi chiếc trực thăng. Sau khi nhận định tình hình, năm quân nhân Hoa Kỳ: Bathelme (bị thương), Summers (bị thương), Miller (bị thương nhẹ, vẫn còn chiến đấu được), chỉ có Bivens và Davies không bị thương. Ngọn đồi này (bãi đáp Cam) đã bị quân Bắc Việt lên chiếm đóng trước, bố trí trong các công sự chiến đấu.
        Khẩu đại liên M-60 trên trực thăng vẫn còn xử dụng được. Súng đạn các binh sĩ Việt Nam tử thương văng vương vãi trên mặt đất. Bivens đưa cho Summers hai quả lựu đạn, leo trở lại chiếc trực thăng, dùng khẩu đại liên M-60 bắn trả lại địch quân. Lúc đó, sáu quân nhân Việt Nam chạy theo triền đồi, vào trong rừng, bỏ lại năm quân nhân Hoa Kỳ cùng với một xác chết của Trung Sĩ (Montana). Sau đó Bivens chạy tới chỗ Montana nằm chết định lấy máy truyền tin để liên lạc, nhưng máy truyền tin cũng ăn đạn không xử dụng được. Bivens quay trở lại thủ khẩu đại liên trên trực thăng.
        Trong khi năm quân nhân Hoa Kỳ kẹt dưới đất, các trực thăng võ trang Cobras bay vòng trên đầu bắn xuống hỏa tiễn cùng với khẩu minigun sáu nòng. Được các trực thăng võ trang yểm trợ, hai trực thăng khác bay vào bãi đáp để đổ quân tiểu đoàn 3/42. Chiếc đầu tiên vào do phi công Don Johnson lái, trúng đạn. Đạn bay xuyên qua kính trước phi cơ, trúng vào áo giáp, viên khác trúng quả lựu đạn khói mà phi công thường đem theo để dùng trong trường hợp khẩn cấp. 
        Trong phi cơ, khói vàng tỏa ra lan tràn đầy phi cơ. Chiếc trực thăng trúng đạn vào nhiều chỗ, đảo qua hướng khác, muốn rơi xuống thung lũng. Trung Úy phi công phụ Larry Leonard cầm cần điều khiển phi cơ lấy lại được thăng bằng rồi bay về đáp khẩn cấp ở Dak To.
        Chiếc thứ hai cũng không may mắn gì hơn, trúng đạn, vội đổi hướng bay về Dak To. Trên bầu trời, Đại Úy Gary Knight, phi tuần trưởng trực thăng võ trang Buccaneer nhìn hai chiếc trực thăng đổ quân bay lết về Dak To. Nhận thấy bãi đáp Cam quá nóng (hot, nguy hiểm), ông ta quyết định hủy bỏ chuyến đổ quân. Đoàn trực thăng Hoa Kỳ bay trở về Kontum thả “hành khách” 3/42 xuống phi trường, lấy thêm xăng rồi bay về Pleiku. Trong khi đó, mấy trực thăng khác đang trên đường đến bãi đáp Cam để cứu phi hành đoàn chiếc trực thăng bị rớt.
        Lúc đó khoảng 9 giờ sáng, hai trực thăng (chở toán biệt kích), cùng các trực thăng võ trang Cobra khác trong phi đoàn 361st Báo Hồng (Pink Panther) trên đường bay về Dak To, sau khi thả toán biệt kích thuộc Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát (SOG). Đoàn trực thăng “biệt kích” được một trực thăng khác cho biết về chiếc trực thăng bị bắn rơi cùng với số phận phi hành đoàn kẹt nơi bãi đáp Cam.
        Sau khi đoàn trực thăng “biệt kích” đáp xuống Dak To (đơn vị SOG thiết lập căn cứ hành quân tiền phương FOB ở đây), hai phi công James Lake và William MacDonald chạy vào đơn vị SOG, yêu cầu cho họ đi cứu phi hành đoàn lâm nạn. MacDonald là bạn học với viên phi công lâm nạn Barthelme từ hồi học trung học. Cả hai cùng gia nhập quân đội và cùng học lái trực thăng. MacDonald giải thích thêm cho cấp chỉ huy, rằng không phải chỉ vì tình bạn, anh ta cùng với Barthelme là phi công trực thăng “làm việc” cho đơn vị SOG. Cấp chỉ huy SOG nơi căn cứ hành quân chấp thuận và ra lệnh cho hai trực thăng cấp cứu cùng với hai Cobra hộ tống đi cứu phi công Barthelme cùng với phi hành đoàn nơi bãi đáp Cam. Trước hết, Lake và MacDonald phải bay về Kontum để đón toán Brightlight (toán biệt kích này chuyên môn đi cứu tù binh, cấp cứu phi công bị bắn rơi, kể cả nơi miền Bắc). Toán biệt kích Brightlight sẽ chuẩn bị xong lúc 10 giờ sáng và đợi trong căn cứ SOG (B15, Kontum).
        Trong phi trường Pleiku, Đại Úy Knight phi tuần trưởng đoàn trực thăng võ trang được lệnh ở lại trong phi trường. Không lực Hoa Kỳ đã thông báo, phòng Tìm Kiếm và Cấp Cứu (SAR) đang lo chuyện cấp cứu phi hành đoàn nơi bãi đáp Cam.
        Trong lúc đó trên không phận bãi đáp Cam, viên phi công trưởng đoàn trực thăng đổ quân Hoffman vẫn bay vòng trên đầu cho những quân nhân Hoa Kỳ ở dưới yên tâm. Anh ta trông thấy một chiếc C-123 bay thấp, cửa sau đã mở ra rồi một nhân viên phi hành đạp xuống một kiện hàng lớn bên trong đựng máy truyền tin, vũ khí đạn dược, dụng cụ cấp cứu, thuốc men cho những người ở dưới. Không may, kiện hàng rơi ra ngoài, xuống thung lũng.
        Một trực thăng cấp cứu khác được hai chiếc Cobra hộ tống định “vào” bãi đáp nhưng bị phòng không của địch bắn lên tới tấp, cả ba trực thăng phải quay trở ra. Thêm ba trực thăng loại nhỏ OH6 LOH vào vùng. Họ không liên lạc hàng ngang nên Hoffman không biết họ là ai. Một chiếc “thử thời vận”, bay từ dưới thung lũng vòng lên. Chiếc này cũng ăn đạn, vội bay trở xuống thung lũng.
        Một trực thăng đơn độc, cất cánh từ Dak To chở theo một Trung Sĩ LLĐB (không biết danh tánh). Chiếc này bay vào để thả xuống viên Trung Sĩ LLĐB can đảm. Anh ta đem theo máy truyền tin để liên lạc với các đơn vị cấp cứu. Kết qủa, chiếc trực thăng trúng đạn nhiều nơi, viên Trung Sĩ LLĐB bị thương nặng, và hai phi hành đoàn trực thăng bị thương. Chiếc trực thăng phải bay trở về Dak To.
        Trong khi đó, tình hình dưới đất trong bãi đáp cũng không sáng sủa hơn. Summers thủ khẩu M-16 với bốn băng đạn, còn Bivens thủ khảu đại liên M-60 trên trực thăng. Mỗi khi có trực thăng bay ngang qua, tất cả đều đưa tay lên vẫy kể cả Al Barthelme, nằm ngửa trên mặt đất, đã bị thương nặng nơi ngực. Đến gần trưa, Al barthelme đã hết vẫy tay, máu ra nhiều, kiệt sức, nằm chờ chết.
        Quân Bắc Việt trên bãi đáp vẫn bắn về hướng Bivens và Summers, cố tình ngăn chặn những chuyến cấp cứu. Đến trưa, Summers đã xử dụng hết hai quả lựu đạn và bắn hết đạn khẩu M-16.
        Trong căn cứ hành quân của đơn vị SOG (B15, Kontum), Trung Sĩ Nhất Dennis Neal, trưởng toán biệt kích Montana, Trung Sĩ Nhất Michael V. Kuropas, trưởng toán biệt kích Vermont, tình nguyện tuyển chọn mấy binh sĩ người Thượng để đi cấp cứu (Các toán biệt kích SOG ngòai Đà Nẵng “CCN” và trên Kontum “CCC” có tên những tiểu bang ở Hoa Kỳ như Idaho, Alaska... Các toán SOG ở Ban Mê Thuột “CCS” có tên là những dụng cụ như Hammer, Sickle...). Trong phần thuyết trình, các trưởng toán biệt kích được cho biết, tình hình nơi bãi đáp Cam rất “xấu”, nguy hiểm. Có thể đó là nơi đặt bộ chỉ huy cấp sư đoàn của quân đội Bắc Việt, với hầm hố, công sự chiến đấu. Cả hai đều chấp nhận, cùng với mấy binh sĩ Thượng lên trực thăng do phi công MacDonald lái, bay về hướng trại LLĐB Dak Seang.
        Chiếc trực thăng chở toán biệt kích Brightlight đến không phận Dak Seang đúng lúc hai phản lực cơ Phantom từ Pleiku lên thả bom trên những ngọn đồi lân cận bãi đáp Cam. Trước đó đã có bốn khu trục cơ A-1 Skyraider thả bom Napalm. Ngoài ra có hai trực thăng khổng lồ Jolly Green thuộc phi đoàn cấp cứu 37 từ Đà Nẵng vào, đang trên đường tới bãi đáp Cam. Chiếc trực thăng bao vùng thông báo cho hai chiếc Jolly Green biết, bãi đáp rất “nóng”, không thể “vào” một cách bình thường. Tuy vậy hai chiếc trực thăng Jolly Green vẫn dàn đội hình hàng dọc bay vào mục tiêu.
        Jolly 27 là chiếc dẫn dầu do Đại Úy Travis Scott lái, phi công phụ là Thiếu Tá Travis Wofford, chuyên viên cơ phi là Jerold Hartzel, và chuyên viên thả dây cấp cứu L. E. Davis. Khi còn cách bãi đáp một phần tư dặm, Jolly 27 báo cáo bị bắn từ hướng mười một giờ, và hướng hai giờ. Vừa báo cáo xong, chiếc trực thăng bị trúng đạn hư hại hệ thống nước, rơi xuống một sườn đồi bốc cháy. Chiếc Jolly 29 bỏ mục tiêu bãi đáp Cam, xuống cứu phi hành đoàn chiếc Jolly 27. Họ lấy được xác Đại Úy Travis Scott, bị chết vì trúng đạn phòng không. Đem về được tất cả mọi người, cả ba người sống sót Wofford, Hartzel và Davis đều bị phỏng nặng. Sau đó Jerold Hartzel chết trong bệnh viện dã chiến 71 Hoa Kỳ. Chiếc trực thăng Jolly 29 quay trở về Pleiku, hết xử dụng được vì trúng đạn quá nhiều.
        Hai chiếc trực thăng của MacDonald, Lake cùng với toán biệt kích Brightlight bay thật cao trên không phận bãi đáp, chứng kiến cuộc giải cứu của đơn vị SAR (Jolly Green) thất bại. Thêm một trực thăng khác với phi hành đoàn mặc áo giáp và lót áo giáp dưới nêm ghế chống đạn bay vào bãi đáp, cũng bị bắn cháy động cơ, phải bay trở ra đáp khẩn xuống một khoảng đất trống về hướng đông nam và được một trực thăng khác đến cứu thoát phi hành đoàn.
        Qua sự liên lạc giữa các trực thăng, chưa ai nghĩ ra cách vượt qua màng lưới phòng không của địch để vào bãi đáp cứu phi hành đoàn lâm nạn. Vấn đề thời tiếp làm cho tình hình trở nên xấu hơn, mây đen kéo đến sẽ làm công việc cấp cứu phải đình lại. Lúc đó William (Bill) MacDonald thông báo mình sẽ bay vào.
        MacDonald lái chiếc trực thăng, ngồi bên cạnh anh ta là Tom Bennie. Sau khi thông báo cho toán biệt kích Neal, Kuropas mình sẽ bay vào, MacDonald cho trực thăng hạ thấp xuống, rơi thẳng đứng xuống thung lũng phiá dưới. Jim Lake, cùng với phi công phụ John Kenny bay theo. MacDonald điều khiển chiếc trực thăng bay dưới thung lũng rồi bất ngờ lấy lại cao độ bay đến bãi đáp. Ngay tức khắc, chiếc trực thăng trúng đạn phòng không và đủ loại đạn súng tay AK-47, B-40, tuy nhiên MacDonald vẫn lao vào bãi đáp và đáp xuống.
        Đằng sau lưng MacDonald, trong lòng chiếc trực thăng, toán biệt kích Brightlight, Neal, Kuropas, cùng binh sĩ Thượng đều nằm chết, đạn bắn xuyên qua thân chiếc trực thăng. Ngay tức khắc Summers, Miller và Davies chạy lại chiếc trực thăng, đằng sau lưng họ, một toán quân Bắc Việt cũng chui ra khỏi khu trú ẩn vừa bắn, vừa đuổi theo. Bivens bắn thêm một loạt đạn M-60 để cản địch quân lại rồi cũng chạy ra chiếc trực thăng thứ hai vừa đáp xuống.
        Trong lúc chạy ra trực thăng, Summers lãnh thêm hai viên đạn, một vào lưng, một vào chân trái. Davies cũng trúng nhiều viên đạn, nằm ngất đi trên sàn trực thăng, đạn trúng vào hàm, bàn tay và lưng. Miller may mắn không trúng đạn, anh ta đỡ Davies lên trực thăng rồi chạy lại nắm tay lôi Al Barthelme về phiá trực thăng. Summers lấy một khẩu M-16 từ một binh sĩ Thượng đã chết phụ với người xạ thủ đại liên bắn cản không cho địch quân xông ra chiếc trực thăng.
        MacDonald và Bennie vẫn bình tĩnh ngồi chờ cho mọi người lên trực thăng. Đạn AK-47 vẫn nổ dòn xuyên qua trực thăng làm Bennie trúng một loạt đạn vào cả hai chân. Trước khi hạ cánh, MacDonald nhìn đồng hồ vẫn còn 1100 cân Anh nhiên liệu (pounds), lúc đó đồng hồ báo chỉ còn lại 400, chiếc trực thăng đã trúng nhiều đạn, thủng bình xăng. MacDonald vẫn ráng chờ cho đến phút cuối, cho Lake biết anh ta phải rời bãi đáp, gần hết nhiên liệu để bay về và không còn điều khiển được cánh quạt đuôi (trúng đạn). Không còn cách nào hơn, viên phi công can đảm ngóc đầu chiếc trực thăng lên, cố gắng điều khiển chiếc trực thăng “bị thương” lết về trại LLĐB Dak Seang.
        Khi MacDonald cất cánh, Bivens vẫn còn tác xạ khẩu đại liên M-60 để cầm chân địch quân, Roger Miller vẫn chưa ra kịp trực thăng, kẹt lại dưới đất. Trong lòng chiếc trực thăng, Davies nằm bất tỉnh, Summer ngồi cạnh trưởng toán biệt kích Brightlight, chợt nhận ra người bạn Neal, Summers cố gắng làm cho Neal sống lại nhưng đã trễ.
        Lake lái trực thăng bay theo MacDonald về hướng trại LLĐB Dak Seang, họ không biết căn cứ đã bị địch bao vây. Hai chiếc trực thăng vừa đáp xuống, đạn ở đâu bắn xối xả vào hai chiếc trực thăng. Neal trông thấy, người xạ thủ khẩu đại liên M-60 trúng đạn rơi ra ngoài. Đạn bay tới tấp đập vào kính trước chiếc trực thăng, lính chính quy Bắc Việt dàn hàng ngang đang tiến tới, chỉ còn cách hai chiếc trực thăng khoảng 100 thước.
        Summers một cựu Biệt Động Quân Hoa Kỳ, lúc đó đã ăn mấy viên đạn vào người, nhẩy ra khỏi chiếc trực thăng, chạy ra nấp phiá sau. John Kemper, một quân nhân LLĐB đang phục vụ lần tour thứ ba la lớn gọi Summers chạy lại chiếc trực thăng thứ hai (do phi công Lake lái). Sau đó Kemper chạy lại chiếc trực thăng của McDonald vác Davies lên vai chạy về chiếc trực thăng của phi công Lake.
        Trên chiếc trực thăng MacDonald cùng với phi công phụ chui ra khỏi phi cơ rồi lăn xuống mộ hố chiến đấu của trại LLĐB. Nhận thức rằng, trực thăng mình đầy người bị thương, Lake vội vàng cất cánh rời Dak Seang bay thẳng về bệnh viện dã chiến 71 ở Pleiku. Ra khỏi hỏa ngục Dak Seang, Lake quay lại nhìn những người bị thương, anh ta ngạc nhiên không thấy Al Barthelme, Summers buồn bã trả lời, Barthelme đã chết, Bivens và Miller vẫn còn kẹt trên bãi đáp Cam.
        Đến bệnh viện 71, sau khi các binh sĩ bị thương đã được y tá chăm sóc, viên phi công Lake nhất quyết không bỏ bạn bè, bay trở lại bãi đáp Cam. Anh ta nhất định đi cứu Bivens, Miller và đem xác Barthelme về. Khi chiếc trực thăng đến Dak Seang, trời bắt đầu xập tối trong vùng đồi núi, Lake buộc lòng phải bay về Kontum.
        Miller bị bắt sống, đưa ra ngoài bắc, cuối cùng được trả tự do trong dịp trao đổi tù binh (Home Coming) trong tháng Ba năm 1973. Anh ta kể lại rằng, đêm đó cả hai người, anh ta và Bivens vẫn còn sống trên bãi đáp Cam. Đến sáng hôm sau ngày 16 tháng Tư, hai người tìm cách trốn về phiá có quân đội đồng minh chẳng may bị một toán tuần tiểu Bắc Việt bắt. Miller nói thêm, Bivens đã bị thương vào ngực. Khi bị bắt, cả hai đều được y tá trong quân đội Bắc Việt băng bó. Khoảng bốn hôm sau, sĩ quan Bắc Việt cho biết Bivens đã chết vì vết thương quá nặng.
        Ngày 29 tháng Tư năm 1970, một toán tìm kiếm quân nhân mất tích Hoa Kỳ vào đến bãi đáp Cam, đem về được xác Barthelme và Montana. Herndon Bivens đã mất tích hơn 20 năm vẫn chưa tìm ra xác. Tên của anh ta cũng không có trong danh sách tù binh của Henry Kissinger.
Dallas, Texas. 
vđh

HÀNH QUÂN 35 “VƯỢT BIÊN”

HÀNH QUÂN 35 “VƯỢT BIÊN”
NGĂN CHẶN ĐƯỜNG MÒN HCM (1966-1972)
VẤN ĐỀ CHIẾN LƯỢC
        Trong khoảng giữa thập niên 1960, Hoa Kỳ có những hoạt động trong vùng Động Nam Á. Tổng Thống Lyndon Johnson cùng với các cô vấn cao cấp trong Hội Đồng An Ninh Quốc Gia phải đối phó với những biến chuyển mới. Kể từ năm 1959, Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam (DRV) đã xử dụng đường Trường Sơn, hoặc đường mòn HCM để đưa người, chiến cụ vào miền nam Việt Nam (Việt Nam Cộng Hòa, RVN).
        Đối với giới lãnh đạo Hà Nội, con đường (HCM) là con đường huyết mạch, cho những hoạt động quân sự trong miền nam Việt Nam. Ngoài ra, hệ thống đường gồm nhiều con đường nhỏ, không chỉ dùng để chuyển quân, đồ trang bị, tiếp vận mà còn là nơi có những binh trạm, căn cứ, nơi dưỡng quân của quân đội Bắc Việt, sau những trận đánh trong miền nam Việt Nam.
        Đúng như thế, hệ thống đường mòn HCM rất quan trọng để Hà Nội gia tăng cường độ chiến tranh dưới vĩ tuyến 17, sau khi Việt Nam đã chia đôi năm 1954. Đến năm 1965, con đường trở nên quan trọng, sau khi Hải Quân VNCH đã khoá chặt đường tiếp vận trên biển từ Hải Phòng vào miền Nam. Hoa Kỳ đã quyết định gia tăng sự can thiệp trong việc bảo vệ miền nam Việt Nam và phải ngăn chặn việc chuyển quân, đồ trang bị tiếp vận của miền bắc vào nam.
        Trong ba tháng đầu năm 1965, có khoảng 5000 quân chính quy Bắc Việt di chuyển trên đường mòn HCM, mức độ chuyển quân đã tăng lên 50% so với năm 1964. Theo lời William Colby, cựu giám đốc cơ quan Trung Ương Tình Báo CIA, lúc đó đang giữ chức vụ, trưởng phòng CIA tại Saigon... Điều quan trọng trong vấn đề chiến lược của chúng ta... Không thể để chính quyền miền bắc xử dụng nước Lào theo ý họ.
        Theo hiệp định Genève năm 1962, trung lập hóa nước Lào, Hoa Kỳ, Bắc Việt Nam, cũng như quân đội các quốc gia Đồng Minh không có quyền đưa quân bộ (Lục Quân) sang nước Lào. Mặc dầu Hà Nội cho chuyện này như “pha”, nhưng Hoa Kỳ vẫn tuân theo luật Quốc Tế, không xử dụng quân bộ trên nước Lào. Kết quả, trong vòng sáu năm, Hoa Kỳ chỉ xử dụng Không Quân, máy móc điện tử, và những đơn vị biệt kích đánh phá hệ thống đường mòn HCM.

NHỮNG ĐẶC TÍNH ĐƯỜNG HCM
        Đường mòn HCM là một hệ thống đường, bao gồm nhiều con đường nhỏ, những đường phụ, phát xuất từ một con đường lớn. Những con đường nhỏ đã được Việt Minh xử dụng trong trận chiến du kích, trong khoảng thời gian 1946-1954, chống lại chế độ thuộc điạ của người Pháp. Có thể bắt đầu sớm từ năm 1958, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã có ý định xâm chiếm miền nam bằng võ lực và bắt đầu xây dựng con đường tiếp vận bằng cách huấn luyện nhân lực để xây dựng binh trạm, hệ thống hướng dẫn trên đất Lào.
        Trong những năm 1959-1964, Hà Nội đã thiết kế sơ đồ tổ chức hệ thống đường mòn HCM, với những căn cứ, binh trạm chính yếu, bao gồm cả bãi đậu xe vận tải, trạm sửa chữa xe cộ, kho thực phẩm, phân phối, v.v... Hệ thống đường rất phức tạp, có chỗ xe vận tải chạy được, những con đường khác chỉ có thể đi bộ. Bắt đầu từ những ngọn đèo nơi biên giới Lào-Việt, chạy dài xuống tới những căn cứ điạ của quân đội Bắc Việt nằm về hướng đông nam nước Lào. Theo lời một sĩ quan trong quân đội Lào, đường mòn HCM đi ngang qua những khu vực trong vùng Đông nam Á mà điạ thế rất khó khăn.
        Hệ thống đường, được rừng núi rậm rạp che phủ, rất khó nhìn thấy từ trên máy bay quan sát. Nhiều kỹ thuật ngụy trang khéo léo được đoàn Vận Tải 559 áp dụng, đơn vị có nhiệm vụ xây dựng, bảo trì và bảo vệ con đường. Đến cuối cuộc chiến, theo tài liệu miền bắc, đoàn 559 đã ngụy trang cho gần 2000 dặm, trong tổng số 12000 dặm, của hệ thống đường. Quân đội Bắc Việt làm những chiếc cầu, ngầm dưới mặt nước (sông, hồ), phi cơ quan sát, thám thính không thể khám phá ra được.
        Vì tầm mức quan trọng của con đường, điều dễ hiểu, Hà Nội đã đổ biết bao nhiêu nhân lực, vật lực vào đường mòn HCM. Lúc nào cũng có khoảng 100000 người trên đường, lái xe vận tải, chuyên viên cơ khí, kỹ sư, phu khuân vác và những đơn vị quân đội bảo vệ con đường. Những đơn vị phòng không được đưa vào đường mòn HCM từ năm 1965 và đến năm 1970, cả con đường được hệ thống phòng không bảo vệ, có nhiều dàn phòng không xử dụng radar. Quân đội Bắc Việt huấn luyện những đơn vị chống biệt kích xâm nhập, dân thiểu số bên Lào theo dõi, báo động, tìm dấu vết những toán biệt kích xâm nhập với nhiệm vụ dò thám, phá hoại đường mòn HCM.

NHỮNG HÀNH QUÂN ĐẦU TIÊN PHÁ ĐƯỜNG HCM (LEAPING LENA)
        Hoa Kỳ mở những cuộc hành quân phá hoại hệ thống đường mòn HCM bắt đầu từ năm 1961. Cơ quan Trung Ương Tình Báo CIA, để tìm hiểu Hà Nội xử dụng con đường, đã huấn luyện dân thiểu số bên Lào kỹ thuật dò thám đường. Họ được chỉ dẫn xử dụng máy chụp ảnh và đem về nhiều tin tức quân đội Bắc Việt đưa người và đồ trang bị, tiếp vận. Bộ trưởng Quốc Phòng Robert S. McNamara vẫn tin rằng, đưa những toán biệt kích xâm nhập, sẽ đem lại kết quả tốt đẹp hơn. Đến năm 1964, Bắc Việt đã mở rộng thêm con đường, dài hơn và ra nhiều nhánh phụ, và những viên chức cao cấp trong chính quyền Tổng Thống Johnson chấp thuận cho tổ chức những cuộc hành quân bí mật, mạnh bạo hơn qua đất Lào.
        Trong tháng Năm 1964, Bộ Tư Lệnh Quân Viện (MACV), bắt đầu huấn luyện năm toán biệt kích tám người, binh sĩ người Thượng do sĩ quan Lực Lượng Đặc Biệt Việt Nam chỉ huy. Được biết đến qua danh hiệu “Leaping Lena”, chương trình này bắt đầu với việc thành lập đơn vị để có thể mở những chuyến hành quân dò thám, xâm nhập vào nước Lào. Người Hoa Kỳ chỉ có nhiệm vụ tổ chức, huấn luyện, trang bị cho đơn vị VNCH này, không dính dáng trực tiếp đến vấn đề hành quân, hoạt động của họ.
        Trong khoảng thời gian cuối tháng Sáu, đầu tháng Bẩy, năm toán biệt kích trong hành quân Leaping Lena nhẩy dù xuống bên Lào. Kết qủa, gần hết biệt kích quân trong các toán đều bị địch tìm ra vị trí, tấn công, giết chết hoặc bắt sống. Vài người sống sót, thoát chết, chạy trở lại biên giới và được cứu, nhưng không đem về những tin tức quan trọng. Mặc dầu hành quân Leaping Lena thất bại, nhưng đã khởi đầu cho “Chiến Tranh Ngoại Lệ” trong vùng Đông Nam Á.
        Thứ nhất, Leaping Lena được dùng như hạt nhân (trọng tâm) cho một chương trình tiếp nối rất hiệu qủa và thành công, đó là Hành Quân Delta. Bao gồm những toán biệt kích hỗn hợp do quân nhân LLĐB Việt-Mỹ đảm trách, mở những cuộc hành quân thám sát trong khắp miền nam Việt Nam. Những toán biệt kích Delta tìm kiếm, xác định vị trí đơn vị địch, lấy tin tức, gọi phi cơ oanh kích và thẩm định kết quả trận dội bom.
        Một điểm đặc biệt mới trong Hành Quân Delta, xử dụng phi cơ “điều không” FAC, làm việc lần đầu tiên với LLĐB trong tháng Mười Hai năm 1965. Phi cơ quan sát FAC có nhiệm vụ, điều khiển trận oanh kích, phu giúp trong việc thả hoặc “bốc” toán biệt kích xâm nhập và tiếp vận truyền tin liên lạc giữa toán biệt kích trong vùng địch kiểm soát và bộ chỉ huy. Chiến thuật phối hợp giữa Không Quân và LLĐB đem lại kết qủa rất tốt trong các cuộc hành quân.
        Thứ hai, sự thất bại trong Hành Quân Leaping Lena, làm cho sĩ quan cao cấp trong quân đội Hoa Kỳ tin rằng, phải có quân nhân LLĐB/HK trong các toán biệt kích hành quân “Vượt Biên” (Lào, Miên), mới thành công. Từ đó mới có những toán biệt kích (SOG) do quân nhân LLĐB/HK chỉ huy xâm nhập qua Lào để ngăn chặn, phá hoại hệ thống đường mòn HCM.
        Trong những năm giữa thập niên 1960, Hoa Kỳ đã xử dụng Không Quân bắn phá đường mòn HCM với chiến dịch Barrel Roll nơi phiá bắc nước Lào và Steel Tiger nơi phiá nam, nhằm mục đích giới hạn sự chuyển quân của quân đội Bắc Việt, đưa người và chiến cụ  vào miền nam Việt Nam. Theo tướng William W. Momyer, tư lệnh Không Lực 7 Hoa Kỳ, các chiến dịch này nhằm giảm bớt mức độ lưu thông trên đường mòn HCM, và các đơn vị trong miền nam sẽ không có đủ nhu cầu tiếp liệu, tiếp vận.
        Không lực Hoa Kỳ đánh phá những đoàn xe chở quân, đồ trang bị, tiếp vận của địch di chuyển trên đường mòn HCM cũng như những bộ phận chính trên đường như những chiếc cầu. Những đoạn đường bị phá hủy sẽ gây nên cảnh ứ đọng xe cộ, vật liệu chiến tranh, sẽ làm mục tiêu dễ thanh toán cho Không Quân. Trên thực tế, rừng núi rậm rạp, thời tiết xấu và kỹ thuật ngụy trang của quân đội Bắc Việt, gây nhiều khó khăn cho các phi công Hoa Kỳ oanh kích mục tiêu. Kỹ thuật tân tiến cũng là một vấn đề, các phi công lái phản lực F-105 Thunder Chief chỉ có vài giây để nhận định mục tiêu rồi bấm nút thả bom.
IGLOO WHITE VÀ “BÃI CHIẾN TRƯỜNG ĐIỆN TỬ”
        Trước những khó khăn trong việc đánh phá đường mòn HCM, bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ nghĩ đến chuyện áp dụng kỹ thuật tân tiến. Chương trình Igloo White thiết lập một hệ thống máy dò điện tử, dọc theo chiều ngang khu vực phi quân sự và trên đất Lào. Trong khoảng thời gian từ 1966 đến 1971, Hoa Kỳ tốn khoảng 1,7 tỷ đô la để xây dựng hệ thống với 20,000 máy dò chạy bằng pin dọc theo đường mòn HCM bên Lào. Hai loại máy dò điện tử được xử dụng.
        . Acoubuoy dùng tín hiệu sonar, được phi cơ thả xuống khu vực rừng núi rậm rạp. Máy này có thể phát ra làn sóng trong vòng 30 dặm và khám phá xe cộ di chuyển trong vòng 1000 thước, người trong vòng 438 thước. Máy được ngụy trang có hình dáng lá cây.
        . AIDSID rất tốt, chính xác, có thêm hệ thống tự phát nổ khi bị địch quân phát hiện, di chuyển. Mặc dầu tầm phát sóng ngắn hơn máy Acoubuoy nhiều, 109 thước cho xe cộ và 33 thước cho người, nhưng bình điện của máy bền lâu. Máy chỉ nặng khoảng 11 kí lô, có thể được phi cơ thả xuống hoặc lính biệt kích đem vào đặt. Bộ phận chính của máy chôn dưới đất, chỉ có cần antena trông như dây leo nhô lên khỏi mặt đất.
        . MINISID loại này nhỏ gọn, chỉ gài trên đường mòn, được chế tạo đặc biệt để lính biệt kích đem vào.
        Phi chơ chống tầu ngầm của Hải Quân Hoa Kỳ bay dọc theo đường mòn HCM thả những máy mọc điện tử xuống. Khi khám phá ra xe cộ, lính Bắc Việt di chuyển trên đường, máy sẽ ghi nhận, rồi phát ra những tín hiệu lên phi cơ EC-121, sau này quân đội Hoa Kỳ xử dụng phi cơ không người lái QU-22B “Pave Eagle” bay vòng trên cao để nhận tín hiệu. Những phi cơ này sẽ chuyển tiếp tín hiệu đến Trung Tâm Dò Thám Điện Tử (ISC) trong căn cứ Không Quân (Đệ Thất Không Lực Hoa Kỳ) Nakhon Phanom bên Thái Lan. Bên trong trung tâm là một máy computer IBM 360-65 (mạnh nhất vào thời gian đó), sẽ xử lý các dữ kiện thâu thập được.    

ĐOÀN NGHIÊN CỨU QUAN SÁT (MACV-SOG)
        Trong tháng Giêng năm 1964, Tổng Thống Lyndon B. Johnson chấp thuận cho những hoạt động bí mật nhằm tạo áp lực cho chính quyền Hà Nội và giảm bớt khả năng đưa quân vào miền nam Việt Nam. Được biết tên gọi là Hành Quân 34A (Oplan 34A), chương trình này bao gồm những cuộc hành quân “ngoại lệ”, chẳng hạn như tổ chức sắc dân thiểu số nơi miền bắc kháng chiến, chống lại chính quyền Hà Nội. Hoạt động tâm lý chiến để gây chia rẽ giữa chính quyền với dân chúng miền bắc. Và những cuộc hành quân đột kích bất ngờvào những mục tiêu chọn lọc, nhằm hủy diệt tiềm năng kinh tế miền bắc.
        Để xây dựng một đạo quân bí mật cho Hành Quân 34A, Tổng Thống Johnson ký thuận cho việc thành lập một đơn vị “Tối Mật” trong cơ quan MACV, lấy tên là “Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát” (SOG, mật danh). Đơn vị đặc biệt này có năm bộ phận.
1.      Hành quân bí mật của Hải Quân (Oplan 37)
2.      Không yểm (Oplan 32 và Oplan 35)
3.      Hoạt động Tâm Lý Chiến (Oplan 39)
4.      Hành Quân 34 (Thả dù các toán biệt kích xâm nhập miền bắc)
5.      Hành Quân 35 (Đưa các toán biệt kích xâm nhập Lào và Miên)
        Hành Quân 35 được tổ chức nhằm mục đích “giải quyết” các vấn đề liên quan tới đường mòn HCM. Các sĩ quan cao cấp trong quân lực Hoa Kỳ kết luận rằng, phải có người (biệt kích) dưới đất, dò thám, xác định mục tiêu, cho phi cơ oanh kích đường mòn HCM mới hiệu qủa. Một phương thức để thực hiện điều này, dựa vào tin tức do sắc dân thiểu số, cơ quan CIA huấn luyện cung cấp. Tuy nhiên họ làm việc không hiệu qủa và tin tức đem về có nhiều nghi vấn. Thêm vào sự thất bại trong hành quân Leaping Lena, giới chức cao cấp Hoa Kỳ tin rằng, những toán biệt kích “vượt biên” phải do quân nhân (LLĐB) Hoa Kỳ chỉ huy mới đạt kết qủa tốt.
        Hành Quân 35 trên đất Lào còn gặp một trở ngại “ngoại giao” đó là nước Lào trung lập. Tất cả các hoạt động trên đất Lào phải được giữ bí mật và “chối cãi” được.
        Mặc dầu được tổ chức từ năm 1964, nhưng cho đến năm 1966, Hành Quân 35 mới mở cuộc hành quân đầu tiên. Hai “vấn đề” gây ra sự chậm trễ. Thứ nhất, Tổng Thống Johnson vẫn chưa dứt khoát mở rộng chiến trang sang đất Lào., vì miền bắc tiếp tục đưa thêm quân và chiến cụ vào miền nam nên buộc lòng ông ta phải chấp thuận. Thứ hai, sĩ quan cao cấp vẫn còn e ngại kết qủa hành quân Leaping Lena. Đến năm 1966, đường mòn HCM trở thành “vấn đề” lớn trong cuộc chiến Việt Nam, Hành Quân 35 phát triển nhanh chóng, trở nên bộ phận lớn nhất trong đơn vị “Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát” (MACV-SOG).
        Trong vòng sáu năm kế tiếp, những toán biệt kích SOG trong Hành Quân 35 sẽ xâm nhập hàng trăm chuyến qua đất Lào, dò thám, phá hoại đường mòn HCM. Nhiệm vụ chính cho các toán biệt kích là tìm kiếm, xác định mục tiêu, và gọi phi cơ lên oanh kích. Những mục tiêu bao gồm: căn cứ, binh trạm quân đội Bắc Việt, bãi đậu xe vận tải Molotova, nơi tập trung quân, và đường xá. Sĩ quan cao cấp Hoa Kỳ trong Saigon và ở Hoa Kỳ tin tưởng những toán biệt kích SOG (Oplan 35) có thể “làm” được nhiều việc trên đất Lào. Những công việc như đột kích, tấn công các kho chứa đồ tiếp liệu của địch, bắt sống tù binh để lấy tin tức về đơn vị địch, gài mìn bẫy và thẩm định kết qủa trận ném bom. Và dặt máy dò điện tử gần đường mòn HCM.
       
VƯỢT BIÊN QUA LÀO
        Những cuộc hành quân “vượt biên” do đơn vị SOG tổ chức thường do những toán biệt kích dưới sự chỉ huy của một hạ sĩ quan Hoa Kỳ (tuyển mộ từ LLĐB/HK) và chín biệt kích người thiểu số (Thượng, Nùng...). Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ đã quá quen thuộc với các loại hành quân “ngoại lệ” trong lòng địch nên là nguồn cung cấp nhân lực chính yếu cho đơn vị SOG. Những biệt kích quân thiểu số thường được tuyển chọn từ sắc dân Nùng, họ được người Hoa Kỳ tin tưởng, có khả năng chiến đấu.
        Để có thể “chối cãi” được, trên phương diện ngoại giao, trong trường hợp biệt kích quân bị bắt sống, các toán biệt kích SOG trong Hành Quân 35 ăn mặc quần áo sản xuất tại Á châu, không phù hiệu, cấp bậc, và trang bị vũ khí không phải sản xuất tại Hoa Kỳ (AK-47, tiểu liên K-9 Thụy Sĩ). Hành Quân 35 xâm nhập vào nước Lào, lúc đầu có danh hiệu Shining Brass, được đưa đi từ những căn cứ hành quân tiền phương (FOB) trên phần đất Việt Nam gần biên giới Lào-Việt.
        Để giảm thiểu sự khám phá các toán biệt kích xâm nhập của quân đội Bắc Việt, các phi cơ trực thăng không sơn phù hiệu, số hiệu đưa các toán biệt kích xâm nhập vào lúc trời sắp tối. Thường các trực thăng đưa biệt kích xâm nhập bay thành hợp đoàn có những trực thăng võ trang bay theo hộ tống, bảo vệ. Thiếu tướng John K. Singlaub, cựu chỉ huy trưởng đơn vị SOG kể lại.
        “Các biệt kích quân di chuyển ra khỏi bãi đáp trực thăng nhanh chóng, và tổ chức phục kích, những toán quân địch biết được (nghe hoặc trông thấy) trực thăng đáp xuống thả toán biệt kích. Trong màn đêm, biệt kích có thể nghe tiếng địch quân di chuyển dễ dàng, vì trời tối rất khó giữ im lặng khi di chuyển. Mỗi chuyến xâm nhập có kể kéo dài một ngày, hai ngày hay có khi vài tuần, tùy theo nhiệm vụ của toán biệt kích và khả năng lẩn tránh những toán tuần tiễu của địch. Đến khi triệt xuất, thâu hồi toán biệt kích, trực thăng có thể thả dây McGuire, Stabo xuống câu các biệt kích quân ra khỏi khu vực nguy hiểm.”
        Toán biệt kích SOG, sau khi xâm nhập, sẽ di chuyển trong những khu vực rừng rúi rậm rạp, bao quanh đường mòn HCM. Họ sẽ lục soát, thám sát khu vực với hy vọng sẽ tìm được những mục tiêu “sáng giá” như: bãi đậu xe vận tải, kho vũ khí, đạn dược, tiếp liệu. Toán biệt kích chọn những “điểm” đặc biệt để theo dõi hoạt động, mức độ lưu thông của địch trên con đường. Những điểm được chọn này không gần con đường quá (nguy hiểm) và cũng không cách xa (không thấy rõ) mục tiêu dò thám, theo dõi, và cũng không nên ở... lâu quá.
        Xử dụng máy truyền tin PRC-77 và KY-38, toán biệt kích có thể liên lạc với phi cơ thám thính FAC bằng tiếng Anh để báo cáo. Phi cơ FAC thường bay chậm trên đầu toán biệt kích để quan sát và điều động các phi tuần phản lực F-4 lên oanh kích. Theo báo cáo của Không Quân Hoa Kỳ, mỗi lần yêu cầu không lực Hoa Kỳ lên oanh kích mất khoảng 30, 40 phút.
        Để gia tăng hiệu năng phối hợp làm việc giữa toán biệt kích SOG và phi cơ quan sát FAC, Đệ Thất Không Lực Hoa Kỳ đồng ý để cho một cựu trưởng toán biệt kích SOG (đã có kinh nghiệm) đi bay, ngồi ghế sau trên chiếc FAC OH-1 (Covey’s Rider). Nhiêm vụ của quân nhân này sẽ phụ giúp toán biệt kích hoạt động dưới đất, tìm kiếm mục tiêu, chọn bãi đáp trực thăng, tham khảo kế hoạch thả và “bốc” toán biệt kích, và giữ liên lạc.
        Vì mức độ quan trọng của đường mòn HCM, quân đội Bắc Việt quyết tâm bảo vệ con đường huyết mạch đưa quân và vũ khí vào miền nam. Hành Quân 35 “Vượt Biên” là một trong những cuộc hành quân “ưu tiên” nhất, lo sợ nhất, và cũng nguy hiểm nhất trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam.
        Đường mòn HCM chạy xuyên qua những khu vực rừng núi rất hiểm trở, rất khó cho toán biệt kích di chuyển. Và toán biệt kích phải luôn luôn đề cao cảnh giác, giữ bí mật, im lặng, tránh những đơn vị an ninh, bảo vệ của địch. Các đơn vị “săn” biệt kích này được huấn luyện đặc biệt, di chuyển dọc theo đường mòn HCM để đối đầu với các toán biệt kích SOG trong hành quân Shining Brass. Việc xâm nhập, dò thám rất nguy hiểm, theo một bản thống kê, ít có toán biệt kích nào xâm nhập vào sâu hơn 2 cây số kể từ điểm xâm nhập (bãi đáp trực thăng).
        Số lượng xâm nhập trong hành quân Shining Brass (đến tháng Ba năm 1967, đổi tên là Prairie Fire, vì lý do an ninh, bảo mật) tăng đều từ năm 1966 cho đến năm 1970. Năm 1966, trung bình có 11 chuyến hành quân xâm nhập mỗi tháng. Đến năm 1968, con số tăng lên 25 và năm 1969 là năm hoạt động mạnh mẽ nhất của đơn vị SOG trong Hành Quân 35 là 37 chuyến hành quân xâm nhập vào đất Lào.
        Đồng thời, quân đội Bắc Việt cũng bỏ thêm tài nguyên, nhân lực, vật lực vào việc bảo vệ hệ thống đường mòn HCM. Quân đội Bắc Việt huấn luyện người thiểu số bên Lào cách thức báo động khi trông thấy trực thăng, phi cơ, biệt kích... Họ sẽ đánh trống, đánh cồng, đánh khiên truyền đi từ làng này qua làng khác, rồi đến tai đơn vị “săn” biệt kích. Bắc Việt tổ chức, huấn luyện thêm những toán tuần tiễu trong những khu vực (trống trải), trực thăng có thể dùng để thả toán biệt kích xâm nhập. Có đơn vị Bắc Việt xử dụng máy móc điện tử, có thể dò tìm ra toán biệt kích SOG trong đường bán kính 200 thước. Và họ tìm đủ mọi cách cho điệp viên, nội tuyến xâm nhập vào các bộ chỉ huy, căn cứ của đơn vị SOG, làm tài xế, nấu ăn...
        Hành quân Prairie Fire, hậu thân của hành quân Shining Brass đã mất yếu tố bất ngờ, địch quân đã đề phòng nên thời gian hoạt động trên đất Lào của các toán biệt kích rút ngắn lại. Trong thời gian lúc ban đầu, các toán biệt kích có thể hoạt động trong lòng địch sáu ngày, đến năm 1969 chỉ xâm nhập được hai ngày... nhiều chuyến chỉ có mấy tiếng đồng hồ, đã bị địch phát giác, tấn công phải triệt xuất khẩn cấp.
        Thời gian hoạt động ngắn đi, con số tổn thất gia tăng. Con số tổn thất nhân mạng, các toán biệt kích SOG năm 1967 là 39%, năm 1968 là 44%, 50% trong năm 1969. Đến ngày 30 tháng Tư năm 1972, trong chương trình “Việt Nam Hóa”, đơn vị SOG bàn giao tất cả các hoạt động cho Nha Kỹ Thuật VNCH.

Theo tài liệu trên Internet.
Dallas, TX. 
vđh